NGHI QUYET CHAU AU 1481 CON DUONG GIAI THE CSVN

HAY TIM HIEU THU DOAN VA TOI AC CONG SAN VIET NAM DE BIET RANG CHUNG TA VA NGUOI THAN CHUNG TA DA BI LUA BIP VA HAM HAI, HAY HOC HOI TU TUONG DAN CHU DE DOI LAI QUYEN LAM NGUOI MA BON CONG SAN DA DA TAM TUOC DOAT. MUON CUU LAY CHINH MINH VA DAN TOC THI CHI CO MOT CON DUONG DUY NHAT LA HAY DOAN KET DUNG DAY DAP DO GONG CUM CONG SAN, TIEU DIET CHE DO DOC TAI VO NHAN VO DAO

Monday, May 01, 2006

THẾ ĐẤU TRANH MỚI

THẾ ĐẤU TRANH MỚI - BÀI NÓI CHUYỆN CUẢ GS LAI THẾ HÙNG TẠI WESTMINSTER CALIFORNIA

HỘI THẢO VỀ HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC VÀ THẾ ĐẤU TRANH MỚI

Bài thamhội thảo “Về Hiện Tình Đất Nước Và Thế Đấu Tranh Mới” tại trung tâm sinh hoạt thị xã Westminster, Santa Ana, tiểu bang California, Hoa Kỳ ngày 23 tháng 10 năm 2005. luận của giáo sư Lai Thế Hùng, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Âu Châu (CĐÂC), chủ tịch Phong Trào Đấu Tranh Đòi Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ, Nhân Quyền Và Toàn Vẹn Lãnh Thổ Cho Việt Nam (PTĐT) và tổng thư ký Ủy Ban Lâm Thời Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại Yểm Trợ Những Tiếng Nói Đấu Tranh Quốc Nội (UBYTQN) trong buổi hội thảo “Về Hiện Tình Đất Nước Và Thế Đấu Tranh Mới” tại trung tâm sinh hoạt thị xã Westminster, Santa Ana, tiểu bang California, Hoa Kỳ ngày 23 tháng 10 năm 2005.

Kính thưa quý vị, thưa quý đồng hương,

Nhân danh CĐÂC và PTĐT cũng như UBYTQN, trước hết, chúng tôi xin được gửi đến quý liệt vi, lời chào đoàn kết đấu tranh và quyết tâm phục hồi tự do cho Việt Nam. Chúng tôi cũng xin cảm ơn nhạc sỹ Hồ Văn Sinh và Ban Giám Đốc Đài Phát Thanh Việt Nam Mến Yêu, vì chính nghĩa chung, đã cho chúng tôi cái vinh dự được thưa chuyện cùng quý vi, trong buổi hội thảo về “hiện tình đất nước và thế đấu tranh mới”, tại thủ phủ người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại, thành phố Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ hôm nay.

Kính thưa quý vị, mùa đại lễ Vu Lan báo hiếu lần thứ 30 mà chúng ta đã long trọng cử hành nơi đất khách quê người, trong lúc quê hương ta vẫn còn trong bóng đêm dầy đặc độc tài Cộng Sản. Chúng ta đây, vẫn là những kẻ mất nước lưu vong. Đồng bào quốc nội vẫn chưa được hưởng quyền sống, quyền làm người, nên cũng nô vong ngay chính trên quê hương mình. Thực vậy, từ ngày phải bỏ nước ra đi vì sợ Cộng Sản , ngày miền Nam thân yêu rơi vào tay Cộng Sản Hà Nội (CSHN) tham tàn, thì không một ai trong chúng ta mà không cảm thấy ngậm ngùi, chua xót, - Và luôn tự hỏi, phải làm gì để giải cứu quê hương, hồi sinh dân tộc, để sớm có những mùa Vu Lan, mùa Phật Đản, mùa lễ Giáng Sinh, và những ngày lễ hội năm nào thuở xưa.

Đó là những lễ hội của đoàn tụ, lễ hội của tình thương yêu đùm bọc trong tình tự dân tộc. - Và cũng không một ai trong chúng ta mà không khỏi đau lòng khi nhìn về thực trạng quê hương hiện nay : một đất nước tan hoang rã rời, một dân tộc ly tán chia lìa ; đến độ, có thể nói được rằng, không một gia đình hay một con dân Việt Nam nào, nếu không nếm mùi tử biệt, thì cũng phải chịu cảnh phân ly, cùng cực. Một xã hội mà đại bộ phận đồng bào vẫn trầm luân trong nghèo đói, lạc hậu, bất an và chậm tiến, văn hóa suy đồi và đạo lý băng hoại đến tận gốc rễ. Tình trạng này đang dẫn đến nguy cơ bị hủy diệt tương lai cho cả dân tộc.

Trong khi đó, với bản chất quỉ quyệt, gian ác và cố bám vứu vào quyền lực để hưởng đặc quyền, đặc lợi; bạo quyền CSHN, thay vì lấy quyền sống, quyền hưởng tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của người dân làm mục tiêu hướng thượng, lấy dân tộc làm mục tiêu phục vụ, bạo quyền đã tự đặt Đảng CS vào vị trí nhất nguyên, để buộc mọi người chỉ nghe một chiều, nhìn một phía và mọi người phải ngoan ngoãn tuân hành các mệnh lệnh của chuyên chính vô sản.

Thay vì tôn trọng tự do, dân chủ của toàn dân như một sinh hoạt đa nguyên, đa đảng có tính cách tất yếu và hằng cửu của xã hội, bạo quyền đã thô bạo áp đặt lên dòng tâm sinh dân tộc một loại độc tài đảng trị thâm hiểm dưới danh xưng “dân chủ tập trung” mà chưa bao giờ dân tộc ta một lần chấp nhận. Chính sách cai trị ngu dân mà bạo quyền áp đặt để khống chế người dân từ mấy chục năm qua, đã làm cả nước bị vong thân, không còn khả năng nhận thức đâu là sự khác biệt giữa quyền làm người và phận làm nô lệ; bão quyền xử dụng những giáo điều Mác-Lê để hù dọa, khủng bố thường trực tư tưởng và hành động của người dân, cùng với mọi quyền lực trong tay và hành chánh pháp lý tăm tối, ngu dốt của cái được gọi là xã hội chủ nghĩa, bạo quyền đã đánh phá tận gốc rễ mọi dạng thức văn hóa của cha ông nòi giống và mọi tôn giáo truyền thống vốn có của dân tộc.

Thực không ai có thể phủ nhận được rằng, tham ô, quan lại, đĩ điếm, lường gạt, sát nhân... và cả hàng trăm tội ác đủ loại tại Việt Nam ngày nay đều có mẫu số chung là tính đấu tranh giành dựt vì quyền lợi vật chất giữa người với người và người bóc lột người. Rõ ràng là văn hóa Mác-Lê và cái gọi là tư tưởng của tên tội đồ Hồ Chí Minh, đã là cha đẻ của hàng núi tội ác này. Chúng ta cũng khỏi cần giải thích dài dòng, vì ai cũng thừa biết rằng, do tham ô nhũng lạm của tập đoàn thống trị CSHN mà giờ đây, hàng chục ngàn thiếu nữ vị thành niên bị chúng xuất cảng làm nô lệ tình dục khắp nơi. Cũng do sự hiểu biết nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, luật pháp và hành chánh tăm tối cùng với sự tham quyền cố vị, bạo quyền đã biến đất nước thành một quốc gia thường trực sống trong nghèo đói, bất an và chậm tiến vào bậc nhất trong cộng đồng nhân loại hiện nay, đã làm hàng trăm ngàn thanh thiếu niên vác thân lao động kiếm sống ở nước ngoài. Kinh tế tồi tệ, văn hóa ngày một bị nhận chìm xuống bùn đen; tất nhiên xã hội sẽ phải theo qui luật “bần cùng sinh đạo tặc” khắp nơi trong nước. Thưa quý vị, biết đến bao giờ quê hương ta mới thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn độc hại này ?

Với những biến đổi sâu sắc trên bàn cờ chính trị quốc nội cũng như quốc tế hiện nay, không một ai có thể phủ nhận rằng, không 1 năm thì 5 năm, hay 10 năm nữa là cùng, bạo quyền CSHN cũng phải tiêu vong, cũng phải đi vào nghĩa trang của dòng lịch sử. Nhưng câu hỏi được đặt ra, nếu năm mười năm nữa, bạo quyền mới tiêu vong thì còn gì là quê hương ? Chúng ta có đủ can đảm để ngồi nhìn sự tự hủy và tự diệt vong của bạo quyền, như một ít người với thái độ rất ư là thức giả trong cộng đồng, đang khuyên nhủ những người chung quanh :”thời đại này là thời đại diệt vong của chủ nghĩa CS; thời đại của chủ nghĩa bất chiến tự nhiên thành. Tại sao không thảnh thơi thơ túi rượu bầu”. Thưa quý vị, chắc chắn rằng, CSHN rồi cũng sẽ tiêu vong, cũng sẽ bị lịch sử đào thải; nhưng chúng ta không thể vì vậy mà giảm bớt quyết tâm đấu tranh. Vì rằng, giải cứu đồng bào thân yêu thoát cảnh cùng khốn hiện nay là một mệnh lệnh của lương tâm, mệnh lệnh đó, hàng ngày, hàng giờ thôi thúc chúng ta phải nỗ lực chấm dứt đời sống kẻ thù càng sớm càng tốt. Vì chậm một ngày, một giờ, đồng bào càng bị nhận chìm xuống vực sâu đói khổ, lầm than và chết chóc hơn nữa. Chắc chắn chúng ta không đủ can đảm để thảnh thơi ngồi chờ sự rơi rụng, tiêu vong của bạo quyền.

Gạt bỏ ra ngoài những kẻ tôn thờ chủ nghĩa CS và bọn tay sai, những kẻ đang thi hành chiến thuật do bạo quyền vạch ra để đánh lạc hướng dư luận quốc tế và người Việt hải ngoại, là quên đi “khát vọng tự do của toàn dân ta hiện nay”, quên đi mục tiêu đấu tranh trường kỳ của dân tộc là “kiến tạo một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ, nhân bản và giầu mạnh”. Chúng ta cũng gạt bỏ ra ngoài những kẻ không có mục tiêu đấu tranh, những kẻ gió mạnh chiều nào ngả theo chiều đó. Trước đây họ chống Cộng hay bây giờ họ thỏa hiệp với Cộng, cũng chỉ vì danh hoặc lợi, hoặc cả danh lẫn lợi. Đối với loại người này, không có vấn đề quê hương dân tộc, không có vấn đề tình nghĩa đồng bào ruột thịt và cũng không có vấn đề trách nhiệm hay lương tâm. Họ đổi chính kiến như loài tắc kè đổi mầu da. Bản chất và hiện tượng của họ, đồng nhất theo nhu cầu và hoàn cảnh cá nhân. Do đó, góp ý với loại người này, thực là việc làm vô ích. Chúng ta ở đây, chỉ bàn luận với những người còn thực lòng yêu nước và biết lo lắng cho dân tộc.

Chúng ta cũng cần khẳng định rằng, mục tiêu đấu tranh của dân tộc ta, là kiến tạo một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ, nhân bản và giầu mạnh, đối nghịch với bản chất của chủ nghĩa CS và cơ chế thống trị đất nước ta hiện nay; cho nên thực chất của cái gọi là đổi thay của bạo quyền CSHN, hoàn toàn chỉ nhằm mục đích cứu nguy chế độ. Những căn bản của cơ chế, bạo quyền vẫn giữ nguyên vẹn. Từ hiến pháp 1946 đến hiến pháp tu chính 1976, rồi đến hiến pháp sửa đổi 1992, bạo quyền vẫn coi chủ nghĩa Mác-Lê và tư ưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hoạt động xã hội. Đảng CS vẫn được tuyên xưng là đảng duy nhất, tiền phong lãnh đạo dân tộc. Đảng ở trên dân tộc, trên luật pháp, trên tổ quốc, trên mọi tranh luận và quyền hành quyết định đất nước tuyệt đối nằm trong tay Đảng. Những cơ cấu, những tổ chức, những phong trào khác, đều là đồ trang sức, chỉ để phục vụ và bảo vệ quyền lực của Đảng. Trong lúc guồng máy độc tài cai trị dân vẫn hơn 4 triệu đảng viên, hàng trăm ngàn công an đủ loại, hơn một triệu quân đội được chính trị hóa bởi chủ nghĩa CS. Do đó, nếu ta không nắm vững mục tiêu đấu tranh, không nắm vững bản chất chế độ và thực chất của những đổi thay của bạo quyền, chúng ta, một lần nữa, lại bị CSHN lừa bịp bằng những chiến thuật nhất thời của chúng, đang dương ra để bẫy những phần tử nhẹ dạ, ngây thơ người Việt hải ngoại, qua các chiêu bài, nào là “hòa hợp hòa giải dân tộc, thỏa hiệp, cầu hòa,...người Việt hải ngoại khúc ruột ngàn dặm của tổ quốc,...” mà thưa quý vi, đã là người Việt tỵ nạn, thì không một ai có thể tin theo và chấp nhận được.

Gần đây, lại có những luận điệu cho rằng, đã đến lúc người Việt trong và ngoài nước, cần gạt bỏ quá khứ, xóa bỏ hận thù, cần giao lưu văn hóa và đối thoại với bạo quyền CSHN để cùng tìm phương sách xây dựng đất nước. Mới nghe qua, một ít người đã lầm tưởng và coi như hợp lý. Nhưng vấn đề đặt ra, trong tình thế hiện nay, làm sao có thể áp dụng ý kiến này với bạo quyền ? Trước hết, vấn đề gạt bỏ quá khứ. Chúng ta đồng ý rằng, những gì thuộc về quá khứ hãy để lại cho lịch sử, không nên để quá khứ cản trở tương lai.

Nhưng nếu những gì, xẩy ra trong quá khứ, đang là vấn đề của hiện tại và sẽ là vấn đề của tương lai thì sao ? Chế độ độc tài chuyên chế CSHN, được thiết lập từ mấy chục năm qua, vẫn đang tồn tại trên quê hương ta hiện nay. - Và, bạo quyền đang làm đủ mọi cách để kéo dài chế độ này trong tương lai. Trong lúc, chế độ đó đã gây không biết bao tang thương, đổ vỡ cho dân tộc, đã làm cho đất nước nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến. Chúng ta muốn gạt bỏ quá khứ, nhưng vấn đề là chế độ độc tài chuyên chế ấy, không phải đã trở thành quá khứ mà đang là vấn đề của hiện tại và tương lai dân tộc. Vì vậy, trong tình trạnh hiện nay, nếu gạt bỏ quá khứ với bạo quyền thống trị, chẳng khác gì chấp nhận sự thống trị của bạo quyền trên dân tộc hiện nay và về sau.

Thứ đến, xóa bỏ hận thù. Chúng ta và cả thế giới, từng lên án bạo quyền đã áp dụng chính sách trả thù tàn nhẫn với nhân dân miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Gần một triệu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa bị đầy ải trong các trại tập trung nơi rừng thiêng nước độc, những vùng sình lầy đầy lam sơn chướng khí. Với chủ trương đấu tranh giai cấp, bạo quyền đã đầy đọa hầu hết các thành phần của xã hội miền Nam.

Vì tương lai của tổ quốc, dù biết CSHN đã từng gây nhiều tội ác với dân tộc, toàn dân chắc chắn sẽ xóa bỏ hận thù, thực thi chính sách “đại đoàn kết toàn dân” để cùng nhau xây dựng đất nước, một khi chủ nghĩa CS và chế độc độc tài chuyên chế HN hiện nay phải được loại bỏ và thay thế bằng một chế độ dân chủ pháp trị thực sự; ngày đó, toàn dân ta chắc chắn, sẽ không phân biệt quá khứ, chinh kiến, tín ngưỡng và thành phần xã hội để cùng chung sức kiến tạo và bảo vệ xứ sở.

Nhưng giờ đây, tập đoàn thống trị CSHN, vẫn tiếp tục ngoan cố duy trì chủ nghĩa mà cả thế giới đã vứt bỏ và nguyền rủa, để tiếp tục bám giữ quyền hành, vẫn độc tài đảng trị, vẫn độc vị trên chính trường, vẫn phi nhân, phi dân tộc, vẫn phản dân hại nước và không ngừng trù dập, khống chế các tôn giáo truyền thống và mọi sinh hoạt xã hội. Nếu chúng ta áp dụng nguyên tắc “gạt bỏ quá khứ, xóa bỏ hận thù, giao lưu văn hóa” và lại còn muốn đâm đơn xin nói truyện với bạo quyền, chẳng khác gì chúng ta muốn đầu hàng, muốn thỏa hiệp, với guồng máy độc tài, gian ác, đang thống trị đất nước, đi ngược lại khát vọng của toàn dân mà trong đó có chính chúng ta.

Chúng ta được may mắn đến bến bờ tự do, thoát khỏi khu rừng đầy thú dữ đang giam hãm hơn 82 triệu đồng bào ruột thịt nơi quê nhà. Đồng bào sẽ không trách móc chúng ta nếu vì hoàn cảnh tuổi tác, vì hoàn cảnh gia đình hay vì ngay cả triết lý sống cá nhân, sau những năm tháng đấu tranh mệt mỏi mà chúng ta nay muốn im lặng rời bỏ hàng ngũ, không cất lên tiếng quát tháo răn đe thú dữ, hay không trở lại cánh rừng cùng đồng bào chiến đấu diệt trừ thú dữ. Nhưng đồng bào sẽ rất phiền trách, giữa lúc thú dữ đang lúng túng và mệt mỏi vì sức chiến đấu của đồng bào, thì chúng ta đã vội lên tiếng đòi thỏa hiệp và cổ vũ hòa giải, hòa hợp với thú dữ, trong khi bản chất tàn bạo của thú dữ vẫn không thay đổi.

Vậy chúng ta, người Việt tỵ nạn hải ngoại phải làm gì trong tình thế hiện nay ? Chúng ta, trước hết, cần xác định lại lập trường của chúng ta là, không chấp nhận bất cứ chế độ độc tài, độc đảng nào trên đất nước chúng ta, không chấp nhận bất cứ một sự hợp tác nào và bằng bất cứ hình thức nào với bạo quyền CSHN. Chúng ta chủ trương một chế độ tự do, nhân bản và dân chủ pháp trị, tôn trọng mọi quyền tự do, lấy hạnh phúc con người làm cứu cánh, giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp, áp dụng một chế độ kinh tế thị trường tự do để đưa đất nước đến phú cường. Chúng ta đấu tranh trên mọi mặt trận, trên mọi bình diện, đấu tranh trường kỳ, liên tục, không ngưng nghỉ và không khoan nhượng cho đến khi đạt được khát vọng tự do, để toàn dân tự quyết định lấy vận mệnh và tương lai dân tộc. Một cách ngắn gọn là chúng ta phải dồn mọi nỗ lực phá bỏ cho kỳ được cơ chế độc tài CSHN hiện nay.

Kính thưa quý vị, chúng ta đấu tranh toàn diện và không từ nan bất cứ một phương thức nào, cho đến khi đạt được khát vọng của dân tộc. Tuy nhiên, tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh của cuộc đấu tranh, chúng ta chọn lựa những mặt trận chính cho mỗi giai đoạn. Chẳng hạn, thập niên 50, đấu tranh vũ trang dành độc lập được chọn làm mặt trận chính. Ngày hôm nay, tình hình đã hòa dịu, mặt trận chính không thể là đấu tranh võ trang mà là đấu tranh quần chúng vận, quốc tế vận, truyền thông vận, chính trị vận, văn hóa vận, kinh tế vận, tôn giáo vận,...

Chúng ta xác quyết rằng, có 3 trường hợp sẽ xẩy ra tại quốc nội trong những tháng ngày tới đây
: 1/ Chúng ta phải khai thác được sự bế tắc của bạo quyền CSHN để đẩy chúng vào chỗ phải biến thể, như trường hợp tại Nga và các nước Đông Âu trước đây, chúng phải từ bỏ độc quyền lãnh đạo và chấp nhận bầu cử tự do. 2/ Khi quần chúng nổi dậy và bị đàn áp, chúng ta phải tổ chức quần chúng để khi bị đàn áp, quần chúng càng nổi dậy. 3/ Bạo quyền có thể tự hủy bằng những xáo trộn ngay trong lòng chế độ bởi quyền lợi phe nhóm, bởi địa phương, bởi đường lối, bởi chính sách cai trị. Trong cả 3 trường hợp trên, dù trường hợp nào xẩy ra cũng đưa đến một cuộc bầu cử tự do.

Công nhận rằng, 82 triệu đồng bào quốc nội giữ vai trò chính trong cuộc đấu tranh. Nhưng vai trò người Việt hải ngoại chúng ta cũng không kém phần quan trọng. Chúng ta không trực diện đối đầu với guồng máy thống trị, thì chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ áp lực. Chúng ta là chất xúc tác để lá cờ tự do, dân chủ, nhân bản của dân tộc được tươi thắm hơn.

Kính thưa quý vi, hiện nay, chúng ta đã có thời cơ, đến từ cuộc cách mạng giải trừ CS ở Đông Âu, đến từ các trào lưu tự do, dân chủ, nhân quyền, của nhân loại và hoàn cảnh chính trị khách quan của thế giới. Chúng ta đã có thiên thời, vì ngày nay, địa bàn quốc nội không còn bất khả xâm nhập và khó khăn như hai thập niên trước; ngược lại, đã có rất nhiều thuận lợi đang mở ra trên nhiều bình diện. Chúng ta cũng đang có nhân hòa, vì lòng người ngày một đã nhận rõ được bản chất thâm độc và quỉ quyệt, cố nắm quyền lực của tập đoàn thống, mà ngay trong hàng ngũ của bạo quyền đã không thiếu những phần tử thức tỉnh, đang trở về với chánh nghĩa tự do của dân tộc. Quả thực, giờ đây, thế nước lòng dân trong nước nay đã đồng và ý trời như đã hẹn.

Do đó, nếu như trước đây, chúng ta chưa có hoặc thiếu sự kết hợp, hoặc thiếu thế liên kết giữa những người cùng chung một chiến tuyến tranh đấu, thì hôm nay đây, xin hãy thành tâm đến với nhau trong tình trăm con một bọc, trong nghĩa tình của những người thực sự muốn đóng góp công sức cho tự do, dân chủ của quê hương, để mỗi chúng ta, là những kinh rạch sẽ trở thành sông và cùng chảy về một biển. Biển của những tấm lòng yêu nước thương dân, ngày đêm chung lo dồn mọi nỗ lực giải cứu quê hương.

Đoàn kết hợp nhất và hỗ tương liên hoàn đấu tranh, chẳng những là nhu cầu cấp thiết và sinh tử, mà còn là phương châm hành động cho mọi nỗ lực cứu nước. Thế liên kết đấu tranh cần phải được đề cao, cỏ võ và thực hiện trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Chúng ta cũng cần khẳng định rằng, công cuộc đấu tranh mà đồng bào quốc nội và người Việt hải ngoại chúng ta đây đang theo đuổi, đó là cuộc “cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng nhân bản”, bắt nguồn từ nhận thức và ý thức của mỗi con dân Việt, nhất là với khối người Việt tỵ nạn chúng ta. Ý thức rằng, chúng ta có trách nhiệm với tổ quốc và tiền đồ dân tộc. Vì vậy, chúng ta không đấu tranh bởi tham vọng hoặc bởi quyền lợi riêng tư. Chúng ta cũng không đấu tranh vì sự xúc động hời hợt, hoặc chỉ để xoa dịu sụ cắn rứt của lương tâm. Do đó, mỗi hành động của chúng ta phải là một thái độ “dấn thân, hy sinh, tự tin, thành tín, bất khuất, sáng tạo, kiên trì và triệt để”. Nếu chúng ta đấu tranh chỉ vì xúc cảm hời hợt, hay chỉ để xoa dịu sự cắn rứt của lương tâm, chúng ta dễ cầu an, tiêu cực và chắc chắn sẽ không giải cứu được quê hương, đất nước vẫn đói rách lầm than.

Cuộc đấu tranh còn phải là một thái độ sống, một quyết tâm dấn thân của tất thảy mọi người Việt yêu nước. Chúng ta không thể bỏ qua một ngày nào, một cơ hội thuận lợi nào mà không đóng góp vào cuộc đấu tranh và nếu như không đấu tranh, chúng ta không cảm thấy hạnh phúc thực sự. Cuộc đấu tranh, phải do chính chúng ta chủ động, do chính những người Việt yêu nước chủ động. Mọi hình thức vận động dư luận quốc tế, mọi phương pháp gây ảnh hưởng với các nhà lãnh đạo thế giới, phải được xử dụng tối đa. Nhưng tất thảy, chúng ta phải chủ động. Vì nếu chúng ta không chủ động, không hy sinh, thì không hy vọng gì thế giới sẽ hành động thay thế chúng ta,

Và như vậy, cuộc đấu tranh sẽ mất chính nghĩa. Sau hết, cuộc đấu tranh phải được tổ chức hóa, nhìn rõ mục tiêu chung, phối hợp kế hoạch, hợp tác trong hành động, hỗ trợ phương tiện, phải là những chỉ tiêu chung cho mọi tổ chức. Cuộc đấu tranh, dẫu phải được tổ chức hóa để gia tăng hiệu năng, nhưng không bao giờ được biến thành một thứ độc quyền. Chúng ta hoan nghênh mọi cá nhân, mọi đoàn thể, mọi tổ chức đấu tranh, phương thức tranh đấu có thể khác nhau, nhưng mọi đóng góp cho chính nghĩa chung, phải được đề cao, tán thưởng và ủng hộ.

Chúng ta cũng cần phải thận trọng trong việc chọn lực phương tiện và biện pháp tranh đấu. Để đương đầu với bạo quyền CSHN hiện nay, võ khí duy nhất của chúng ta là “chính nghĩa tự do của dân tộc” chúng ta phải giữ cho chính nghĩa của dân tộc luôn thực sự được vững vàng và trong sáng. Mọi phương tiện và mọi biện pháp hành động có thể làm cho chính nghĩa dân tộc bị lu mờ, hoặc trở thành đáng ngờ vực, đều phải được cương quyết gạt bỏ. Vì một khi, chính nghĩa dân tộc đã không còn được vững vàng, trong sáng, lập tức cuộc đấu tranh sẽ trở thành vô vọng.

Kính thưa quý vị, “không có những con người với tâm hồn trong sáng, cuộc đấu tranh sẽ trở thành phiêu lưu, và không có những cán bộ có khả năng, cuộc đấu tranh sẽ trở thành không tưởng”.Vấn đề kiến thiết xứ sở, một khi đất nước có được tự do, dân chủ thực sự, chúng ta cũng không nên trông chờ quá vào ngoại viện . Thứ nhất, vì tương quan thế giới đã thay đổi, các thế lực quốc tế đã không còn dùng chính sách ngoại viện làm mục tiêu để bành trướng ảnh hưởng; thứ đến, chỉ có chúng ta mới thực sự yêu thương dân tộc chúng ta. Người Việt hải ngoại sẽ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong giai đọng trong giai đhư kiều dân Do Thái hiện nay và trong những năm cuối của thập niên 40. Điều đáng chú ý nhất là chúng ta có hàng trăm ngàn chuyên viên hải ngoại thuộc mọi ngành nghề, hấp thụ nhiều nguồn văn hóa khác nhau từ Âu Châu, Mỹ Châu, đến Úc Châu, Á Châu,...Họ là một tài sản quí báu trong công cuộc kiến thiết quê hương. Với khả năng chuyên môn, nếu họ được huấn luyện để trở thành những “người Việt Nam mới” với những đức tính: lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cộng đồng và ý thức trách nhiệm cao độ, đất nước ta sẽ được tái thiết một cách mau chóng.

Kính thưa quý vị, khi bạo quyền mạnh chúng ta đã không run sợ, thì không có lý do gì, chúng ta lại thỏa hiệp hoặc cầu hòa giữa lúc bạo quyền đang trên đà hấp hối bởi sự tự hủy và bởi sức đấu tranh của toàn dân. Vạn hội mới đã khởi đầu, khởi đầu tự tận cùng của mọi đổ vỡ, và như một chuyển biến của đại khối dân tộc, của mọi thành phần đồng bào quốc nội, liên tục vùng lên tranh đấu không ngưng nghỉ từ bao nhiêu năm qua, đang trưởng thành và lớn mạnh. Thế tất thắng của dân tộc, phải chăng cũng đến từ đó ? Thế nhân dân cũng đến từ đó và thế quốc tế cũng đến từ đó.

Câu hỏi được đặt ra là, bao giờ toàn dân ta giải trừ được CS. Câu trả lời, còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Nhưng quan yếu vẫn là, mỗi chúng ta đây, phải tôi luyện cho ta một ý chí sắt thép, một niềm tin không đổi dời với lý tưởng cứu nước và con đường tranh đấu trước mặt; cũng như trong bao lâu, ta triệt để khai thác được ưu thế của ta và nhược điểm của kẻ thù. Bao giờ CSHN bị loại bỏ ?
Câu trả lời rất lạc quan khi ta nhìn vào tiền đồ sức mạnh của dân tộc, vào khối thuốc nổ cực mạnh của hờn căm nội địa., Và đặc biệt, nhìn vào chính tâm hồn ta trước nỗi đau thương thống khổ của đại khối đồng bào quốc nội, trước ý thức và trách nhiệm với tổ quốc, quê hương và sự giác ngộ đang vùng lên đấu tranh của toàn dân dưới gông cùm của kẻ thống trị, tàn bạo hiện nay.

Trong bàu không khí thân mật của buổi họp mặt hôm nay, với sự hiện diện của liệt quý vị, quý đồng hương, chúng ta thành tâm cúi đầu hướng về quê mẹ Việt Nam, chia sẻ niềm đau và nỗi thống khổ của Đại Lão Tăng Thống Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, cụ Lê Quang Liêm, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Nguyễn Hữu Giải, Linh Mục Phan Văn Lợi, Linh Mục Chân Tín, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, Bác Sỹ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Trần Khuê, Bác Sỹ Phạm Hồng Sơn, Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Giang, Cựu Đại Tá CS Phạm Quế Dương, cựu cán binh CS Nguyễn Khắc Toàn, nhà thơ Bùi Minh Quốc,... và của hơn 82 triệu đồng bào ruột thịt nơi quê nhà, ngày đêm dưới gông cùm của tập đoàn thống trị tham tàn .

Chúng ta quyết tâm tiếp nối sự nghiệp của tiền nhân và của cha ông nòi giống, của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh,... Gần đây nhất của cụ bà Nguyễn Thị Thu, Thượng Tọa Thích Chân Hỷ, tu sỹ Trần Văn Út, Giáo Sư Trần Văn Bá, Hiền Tài Hồ Thái Bạch, cựu sĩ quan QLVNCH Lê Quốc Quân,.. cùng tất cả những anh hùng đang chiến đấu vì tự do của tổ quốc Việt Nam.

Kính thưa quý vi, chúng ta đang trải qua giai đoạn cuối của một chặng đường lịch sử dân ờng lịch sử dân niên đen tối và đau khổ.

Chúng ta đang đứng trước sự thách đố của một thiểu số, dùng bạo lực để có quyến hành và dùng bạo lực để giữ quyền hành, cản trở bước tiến của dân tộc.

Chúng ta ý thức rằng, muốn giải cứu quê hương khỏi chậm tiền, lạc hậu, trước hết phải giải cứu quê hương khỏi độc tài chuyên chế. Cho nên, hơn lúc nào hết, vì tương lai dân tộc, vì vinh quang của tổ quốc, chúng ta kiên định lập trường, dân tộc, tự do, dân chủ và nhân bản. Chúng ta muốn đất nước thay đổi trong hòa bình, nhưng chúng ta không nhu nhược, không lùi bước trước bất cứ một trở lực nào làm hại đến tương lai của dân tộc.

Dân tộc ta nhất đinh sẽ đat thắng lợi, vì chúng ta có chính nghĩa, vì nhân loại đang đứng về phía chúng ta.

Tình trạng bi thảm của dân tộc , đang thôi thúc chúng ta phải đoàn kết thực sự để giải cứu quê hương.

Ngày nào chế độ độc tài CSHN còn tồn tại, ngày ấy, dân tộc ta còn đầy đau khổ, còn trong vũng lầy đen tối, không nhìn thấy tương lai. Lương tâm của chúng ta, trách vụ của chúng ta đối với sự sống còn của đất nước, không cho phép chúng ta đang tâm để cơn đại nạn của dân tộc tiếp tục kéo dài. Chúng ta phải đoàn kết lại. Chúng ta phải tích cực đấu tranh. Tinh thần đoàn kết, ý chí quết thắng của chúng ta là những yếu tố cần thiết thúc đẩy sức mạnh vô biên của đồng bào quốc nội thành làn sóng cách mạng dân tộc dân chủ, đập tan guồng máy chuyên chính, bạo tàn CSHN hiện nay.

Trước khi kết thúc, chúng tôi xin được ghi lại đoạn văn của một ký giả Pháp từng có nhiều thiện cảm với bạo quyền CSHN trước năm 1975, đã bày tỏ tâm tư phẫn hận và niềm đau xót của mình, sau chuyến viếng thăm VN mới đây của ông. “Kể từ sau ngày Hà Nội thống nhất đất nước năm 1976, đây là lần thứ 5 tôi trở lại VN, đất nước mà tôi vẫn dành nhiều cảm mến,...

Lần này, tôi mới có dịp đi sâu vào các tỉnh lẻ miền Trung và Việt Bắc,.. Cách đây mấy ngày, cùng với người đồng nghiệp, chúng tôi đi xe đò tới vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, quê hương Hồ. Tôi thấy nhiều người cùng xe, quần áo tả tơi, thân hình gầy gò, thiếu dinh dưỡng,vô cùng mỏi mệt và đầy tuyệt vọng lo âu. Khi biết chúng tôi là người Pháp, họ đã ôm mặt sụt sùi khóc nức nở và bày tỏ sự lầm than, thống khổ cùng nỗi bất hạnh của họ hiện nay. Tôi thấy lòng mình quặn đau, không dám nhìn những người khổn khổ đó nữa. Tôi cúi gằm người trong muôn vàn tủi hận. Tôi thấy rõ những giọt nước mắt khổ đau quầng tím đôi mi họ như mũi nhọn thấm vào tim gan tôi. Mắt tôi cũng nhạt nhòa lúc nào không hay biết. Việt Nam ngày nay vẫn còn nghèo đói và người dân vẫn lầm than, khổ cực đến thế sao ? Thì ra, đây mới là bộ mặt thực của hầu hết người dân Việt hiền hòa, chất phác, dù rằng, chiến tranh đã chấm dứt từ 30 năm trên đất nước đau khổ này.

Giờ đây, tôi mới thấy rõ rằng còn rất nhiều người, nhiều người vẫn trong cảnh bần cùng, khốn khổ. Thực là một trớ triêu, buồn đau cho những kẻ vẫn ngạo mạn, kiêu căng đang chiếm ngự trong dinh phủ toàn quyền Đông Dương về câu nói láo khoét của Hồ kêu gọi nhân dân miền Bắc giải phóng miền Nam “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào để xây dựng đất nước bằng mười hôm qua” mà chính tôi đã nhiều năm là kẻ đồng lõa. Không biết, nơi đáy mồ giá lạnh dưới lòng huyệt Ba Đình, ông Hồ có nghe được tiếng oán than của người dân nơi quê hương ông không ? Riêng tôi, vô cùng đau xót, lòng đầy hối hận và tủi nhục,..
Trân trọng cảm ơn quý vị.

Saturday, April 29, 2006

bài phân tích của ông Carlyle Thayer đăng tải trên tờ Wall Street Journal

WSJ: Phải thay chế độ độc tài đảng trị

mới diệt nổi tham nhũng ở Việt Nam

NEW YORK 27-4 (TH) .- Muốn đối phó được nạn tham nhũng được gọi là “quốc nạn” tại Việt Nam, cần phải thay thế cái chế độ độc tài đảng trị ở Hà Nội mới dứt khóat giải quyết được vấn đề.

Đó là nội dung bài phân tích của ông Carlyle Thayer đăng tải trên tờ Wall Street Journal trong số báo ra ngày Thứ Năm 27-4-2006. Nhật báo kinh tế tài chính Wall Street Journal là tờ báo có tầm ảnh hưởng quốc tế.

Ông Thayer dựa vào sự kiện vụ án tham nhũng đang xảy ra ở Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN và Ban Quản Lý Các Dự Án (Cầu Đường) PMU18 trực thụôc bộ này, để cho rằng hành động đối phó có tính cách riêng rẽ từng vụ tham nhũng sẽ không giải quyết được nạn tham nhũng ở Việt Nam. Bởi vì nó được chính đám cán bộ đảng viên cao cấp che chắn, móc nối với nhau để đục khoét.

“Chỉ đối phó với từng vụ tham nhũng riêng rẽ khi chúng lộ ra sẽ không giải quyết đựơc vấn đề.” Thayer viết. “Tình trạng tham nhũng lớn ở Việt Nam có trung tâm từ sự bảo trợ của những hệ thống gồm các đảng viên cao cấp, gia đình của họ và ngay cả trong luật lệ.”

Lý cớ để ông bình luận như vậy là vì các hệ thống (quyền lực) đó nằm bên ngòai luật lệ. Mỗi khi có những vụ tham nhũng lớn bị phơi bày thì chúng đều được “chỉ đạo” giải quyết “bên trong cánh cửa”.

Tổng thanh Tra chính phủ Quách lê Thanh, tướng công an Cao ngọc Oánh, bộ trưởng Giao thông vận tải Đào đình Bình cũng đều phải “giải trình” với “Ban cán sự đảng” của Bộ Chính Trị về các sự việc tham nhũng liên quan đến cá nhân của họ. Các bản “báo cáo kiểm điểm” gửi cho chính phủ chỉ là hình thức. Bởi vì thủ tướng “chính phủ” là cấp chỉ huy trực tiếp nhưng lại không có quyền cắt cử hay cách chức thàn hviên của mình.

Thứ trưởng GTVT Nguyễn việt Tiến và tổng giám đốc PMU18 Bùi tiến Dũng đều được Nông đức Mạnh “giới thiệu vào “trung ương” để từ đó leo lên ghế Bộ trưởng và Thứ trưởng đang chờ sẵn. Nhưng cái vụ thua cờ bạc hàng triệu đô la của “Dũng tổng” cuối năm ngóai đã làm bùng vỡ cả một hệ thống ngang dọc gồm những vị “cộm cán” trong đảng CSVN, từ móc nối, bao che, hợp tác để tham nhũng, ăn hối lộ.

Sơ sơ, người ta thấy nhiều quan chức trong các hệ thống tư pháp, công an, hành chính, chuyên môn CSVN đều “có phần” trong vụ án Bùi tiến Dũng.

Kể cả án PMU18 mà báo chí đựơc thả lỏng phần nào để loan tin, nhiều vụ án khác tham nhũng khác (như tham nhũng tại Tổng thanh tra Nhà nước, Tổng công ty Dầu khí quốc doanh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, Thủy Cung Thăng Long, vụ án Tăng minh Phụng, Phùng long Thất v.v...) đều chỉ được loan tin rất “liều lượng”.

“Tham nhũng ở Việt Nam chỉ được chống từ rốn trở xuống.” Ông Phạm quế Dương, đại tá hồi hưu, nguyên tổng biên tập tạp chí Lịch Sử Quân Đội, từng phát biểu như vậy. Ông là một trong hai người đã làm đơn xin lập “Hội Nhân Dân Việt Nam Giúp Đảng và Nhà Nứơc Chống Tham Nhũng” năm 2001. Không những các ông Phạm quế Dương và Trần Khuê không đựơc lập hội mà còn bị đem ra phường đấu tố, xỉ nhục.

Trong 5 năm qua, “12 ủy viên trung ương đảng đã bị kỷ luật vì liên quan tham nhũng. Nhưng rất ít trường hợp bị đem ra tòa xử tội. Cho dù họ bị đem ra tòa, vụ xử chỉ được kể rất qua loa trên hệ thống báo nhà nước vốn được kiểm sóat chặt chẽ, ngược hẳn với tin tức tràn ngập của vụ án PMU18.” Ông Thayer viết.

Khi xảy ra chuyện băng đảng Năm Cam lộng hành ở Sài Gòn, Trương tấn Sang là bí thư thành ủy, tứơng công an Bùi quốc Huy là giám đốc Sở Công An thành phố, Trần mai Hạnh là tổng biên tập tờ “Nhà báo và Công luận”. Chuyện vỡ lở từ một bài báo tố cáo Hạnh ăn tiền của Năm Cam để tay này ra tù sớm. Cuộc điều tra bất đắc dĩ làm nổi lên một hệ thống chằng chịt từ công an, viên chức tư pháp, viên chức thành phố, dính líu “che dù” cho băng đảng làm ăn. Cuối cùng, năm 2003, Năm Cam bị án tử hình, Trần mai Hạnh (lên chức giám đốc Đài phát thanh quốc gia), Bùi quốc Huy (lên thứ trưởng Bộ Công An) và Phạm sỹ Chiến (Phó viện trưởng Viện Kiểm Sát Tối Cao) chỉ bị án tù tượng trưng. Trương tấn Sang tuy mất chức thành ủy lại về Hà Nội làm Trưởng ban Kinh Tế của Bộ Chính Trị, nay vẫn là ủy viên Bộ Chính Trị. Để tránh cho báo chí đừng bới móc sâu thêm vào chi tiết của vụ án có thể bộc lộ nhiều hơn nữa, Nguyễn khoa Điềm, Trưởng ban Văn Hóa tư Tưởng Trung Ương của Bộ Chính Trị, đã dằn mặt cả làng báo của nhà nước là “không được thông tin quá liều lượng” vì sẽ làm “mất đòan kết nội bộ đảng” và “tiết lộ bí mật quốc gia.”

“Thống kê thành tích chống tham nhũng của Đảng không cho người ta căn cứ để lạc quan rằng chiến dịch chống tham nhũng hiện tại sẽ thành công hơn là những vụ án trước đây. Nói tổng quát, đảng CSVN xác nhận tham nhũng là một trong 4 nguy cơ quan trọng nhất mà Đảng, từ năm có đại hội Đảng năm 1994, phải đối diện. Nhưng từ đó đến nay, 12 năm đã qua và đã có 2 kỳ đại hội đảng, tham nhũng ở cấp cao vẫn cứ diễn ra nhiều hơn bao giờ.” Thayer viết trên WSJ.

Từ khi được đưa lên làm tổng bí thư nhiệm kỳ đầu năm 2001 đến nay, Nông đức Mạnh đã nhiều lần hô hò “kiên quyết” chống tham nhũng và trừng trị “bất cứ ai, không bao che”. Trong nhiều bản tin thông báo kết quả các phiên họp chính phủ hàng tháng, người ta đều thấy tường thuật Phan văn Khải, thủ tướng, nói “sắp tới” chính phủ sẽ “mạnh tay” với tham nhũng.

Ông Carlyle Thayer, một chuyên viên về Việt Nam của Học viện Quốc Phòng Hòang Gia Úc thường được báo chí quốc tế phỏng vấn, phân tích rằng kiểu chống tham nhũng đằng ngọn như ở Việt Nam hiện nay sẽ không giải quyết được gì. Muốn trừ đựơc tham nhũng phải thay đổi chính trị.

“Thay thế đảng CSVN, cái đảng chống lại sự tách biệt quyền lực (hành pháp, lập pháp và tư pháp) và tùy thuộc vào sự thống trị độc đóan của một đảng, là cốt lõi vấn đề. Một nhóm nhỏ người không được (tòan dân) bầu lên (trong phổ thông đầu phiếu) lại nắm trọn quyền kiểm sóat cả 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp.” Ông Thayer viết. “Các cơ chế đó không hoạt động độc lập khỏi Đảng (CSVN) mà chỉ hành động khi các lãnh tụ cấp cao ra lệnh, khi nào thì phơi bày (chính trị hóa) một vụ tham nhũng một cách rầm rộ.”

Ông cũng cho rằng “Cách hữu hiệu duy nhất” để đối phó tham nhũng “luồn sâu leo cao” ở Việt Nam là phải “thành lập các cơ quan tự trị và độc lập với đảng để điều tra, truy tố và xét xử cũng như trừng trị viên chức tham nhũng bất kể cấp bậc nào.” Ông còn nói rằng báo chí cần phải được để tự do loan tin về tham nhũng mà không sợ bị hành tội.

Nhưng, kết luận, ông Thayer bi quan cho rằng để làm được điều đó, đảng CSVN cần phải từ bỏ độc quyền lãnh đạo đất nứơc, nhưng điều này đám lãnh tụ Hà Nội sẽ không làm. Lý do: “Trong khi tham nhũng có thể là nguy cơ làm đảng CSVN mất quyền lực, chống tham nhũng một cách đứng đắn, hữu hiệu lại là một sự đe dọa lớn hơn nữa (đối với sự tồn vong của đảng CSVN).

Chiến sĩ Hoà bình Việt Nam hôm nay: Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý

Phác thảo chân dung

Chiến sĩ Hoà bình Việt Nam hôm nay

Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý - 30.4.2006

Mọi người thiện chí khắp nơi trên thế giới và mọi người Việt Nam trong cũng như ngoài Nước có tâm huyết với Quê hương đều cháy bỏng khao khát có một Tổ quốc VN biết chôn vùi thành công cách văn minh, ôn hòa chủ nghĩa và chế độ cộng sản vĩnh viễn vào quá khứ để toàn Dân sống an bình, đạo đức, thịnh vượng. Muốn đạt được điều nầy, cần phải có một thế hệ chiến sĩ hòa bình đích thật. Người viết xin đề nghị một số nét phác thảo chân dung lớp người chiến sĩ hòa bình (NCSHB) thích hợp cho Đất nước Việt Nam hiên nay.

1- Có một đời sống tâm linh và khiêm tốn vững chắc : Hòa bình không phải là hết chiến tranh. Hòa bình không phải chỉ là có đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, xe cộ, bệnh viện, trường học, sân vận động, nhà hát,... Hòa bình trước hết và trên hết là một trạng thái tâm hồn an vui thanh thản với bản thân, từ hòa và nhân ái với người khác cận kề xung quanh trong một môi trường xã hội đạo đức lành mạnh và thân mật tâm giao với Thượng Đế là Cha Nhân Từ vô cùng và thật sự của mình. Do đó, NCSHB đích thực, trước khi có khả năng đưa hoà bình đến cho Dân tộc, phải là người hòa bình thực sự từ trong tâm khảm sâu xa của mình ; phải có một đời sống thiền định - cầu nguyện ổn định bền vững : mỗi ngày ít nhất phải có 30-60 phút dành cho việc tâm sự với Đấng Tạo Hóa, hồi tâm nhận định lại bản thân và sám hối. Không có việc tối thiểu nầy, dứt khoát không thể làm chiến sĩ hòa bình được, mà chỉ là người ảo tưởng chỉ muốn dựa vào nỗ lực nhân bản để giải quyết vấn đề hòa bình, thậm chí chỉ thích la lối, thóa mạ người khác và khi có điều kiện thì đương nhiên thích đấm đá và dùng bạo lực để nói là xây dựng hòa bình chứ thực ra là chỉ tạo nên lầm lạc, xáo trộn, bất ổn, bất công và chiến tranh mà thôi (kinh nghiệm vô cùng xót xa của cách thức dùng bạo lực chiến tranh để giải quyết vấn đề hòa bình cho Việt Nam từ 76 năm qua hẵn đã quá đủ cho chúng ta rồi). Cần có một thứ tự ưu tiên về thời giờ và công việc hoà bình : Thượng Đế, Tha nhân và Bản thân. Đảo ngược lại chắc chắn sẽ chỉ dẫn đến ích kỷ, khủng hoảng và thất bại ngay không biện minh được.

Chính nhờ đời sống tâm nguyện và khiêm tốn mà NCSHB kiên vững trong mọi thử thách, biết vượt qua các trở ngại, phục hồi khi vấp sai lầm, không sợ hãi bất cứ đe dọa nào, kể cả các lầm lỗi của chính bản thân. NCSHB có đời sống tâm nguyện không sợ bị tra tấn, đánh đập, đói khát, tù đày, khủng bố, vu khống, mạ lỵ,... chỉ sợ một điều duy nhất là chính mình làm điều sai trái. Nhưng tội lỗi cũng không đáng sợ, vì đã có đời sống sám hối giúp phục hồi đời sống tâm giao thân mật với Thượng Đế rồi. Cuối cùng, NCSHB không còn bất cứ đối tượng nào để sợ.

Ai tự hào rằng mình tự nỗ lực để tự giải quyết các vấn đề nầy, người đó đã thất bại ngay từ đầu. Cần khiêm tốn nhận ra giới hạn rất mong manh của bản thân để luôn coi mình là hèn kém, phải có sự soi dẫn nâng đỡ của Thượng Đế và của tập thể cộng đồng. Càng khiêm tốn càng là chiến sĩ hòa bình.

2- Sống công bằng, trong sạch và nhân từ : Một vấn đề nhạy cảm vào bậc nhất là các cộng sự viên cũng như quần chúng rất quan tâm đến tính công bằng ngay thẳng trong vật chất và các quyền lợi của người khác. Do đó, điều đầu tiên NCSHB cần lưu tâm là lo sao cho mình được uy tín trong ngân khoản và tài sản chung. Cần hiểu cho thật đúng rằng : tài sản là của nhân loại, những gì mình có trong tay là của muôn người được Tạo Hóa ký thác cho mình quản lý và phân phối sao cho công minh, chứ không phải mình được toàn quyền phung phá mặc sức. Khi có nhiệm vụ quản lý thì hiểu rằng mình chỉ là cái máng chuyển thông tài sản : máng thì phải dốc để tài sản lưu thông nhanh. Lưu thông xong là máng phải khô không tồn đọng. Ngoài việc phải sống công bằng về của cải vật chất là điều dễ thấy, còn cần công bằng về các tài sản khác như danh dự, tình cảm, ngôn ngữ là giá trị còn quí giá hơn vật chất gấp ngàn lần. Công bằng trong mọi lãnh vực chính là sống trong sạch ngay từ trong tâm ý : Chính ý, chính niệm, chính ngôn, chính hành. Công bằng là không gây ra bất công cho ai. Nhưng như vậy chưa đủ. Sống tốt với người xung quanh còn cần phải từ hòa : nhân từ và khoan hòa. Nếu phê phán cộng sản là gian ác mà chúng ta thiếu nhân từ thì khi đã có quyền lực chúng ta cũng sẽ gian ác không kém. Nếu phê phán cộng sản là độc tài mà chúng ta thiếu khoan hòa thì khi nắm quyền chúng ta cũng sẽ độc tài như thế hoặc tệ hại hơn. Chỉ biết đòi công bằng mà thiếu nhân từ thì chắc chắn sẽ tạo nên bất công khác và xã hội lại mất ổn định. Nhờ lòng nhân ái như hoa trái mà công bằng trở thành công minh, tức công bằng trong sáng suốt. Cuộc sống an vui nhờ lòng nhân từ, hơn là chỉ nhờ công minh.

3- Có nhận thức và thái độ chuẩn xác với chủ nghĩa và chế độ CSVN : Đây là vấn đề phức tạp và khó khăn nhất không chỉ đối với toàn Dân, những người Dân bình thường mà ngay cả giới trí thức, sĩ phu, chức sắc các Tôn giáo (TG) và đối với cả chính cấp lãnh đạo cộng sản nữa.

® Chủ nghĩa và chế độ CSVN tốt hoặc xấu đến mức nào ? Phải có thái độ đúng đắn nào với chủ nghĩa và chế độ ấy ? Bao nhiêu năm, bao nhiêu người mơ hồ và ảo tưởng về vấn đề nầy, dẫn đến nhiều lựa chọn lầm lạc, tác hại không những cho bản thân mà còn cho cả Dân tộc đến những hơn 70 năm qua. Đây cũng chính là thảm họa của các TG tại VN. Lẽ ra các TG phải là đuốc soi đường cho toàn Dân lựa chọn, nhưng đáng tiếc là vì nhiều lý do rất phức tạp, hầu hết các TG tại VN đã chưa làm được điều nầy, chẳng những khiến cho TG mình bị phân hóa lắm khi rất trầm trọng, mà còn làm cho toàn Dân lầm lạc theo. Lẽ ra các TG phải thống nhất nhận thức và thái độ đối với chủ nghĩa và chế độ CSVN cách vững chắc và đầy đủ, rồi mới nghĩ đến việc phát triển. Thực tế, hầu hết các TG tại VN đều đã làm ngược lại, là đang khi chưa thể tìm ra con đường thống nhất nhận thức và thái độ đối với chủ nghĩa và chế độ CSVN, mà lại chỉ quá hăng say muốn phát triển. Kết quả là sự lựa chọn rất tùy tiện của từng nhà lãnh đạo đơn lẻ đã làm cho việc thỏa hiệp với Cộng sản ngày càng trở nên phổ biến. Thay vì cần làm ĐÚNG VIỆC, ai nấy đều chỉ thích làm ĐƯỢC VIỆC dù phải trả các giá quá đắt di lụy lâu dài và rất trầm trọng cho lịch sử muôn đời. Quá nhiều người, kể cả một số Chức sắc TG, sử dụng “bao thư”, “lót tay”, “bôi trơn” ; tham dự các buổi họp hình thức vô bổ hoặc tác hại, hiện diện các “meeting trọng thể”, phát biểu, làm văn,... ca tụng không biết ngượng... một cách quá tự nhiên, thông thạo, thành nếp coi như là đương nhiên phải thế, không thể khác !!! Sử dụng các từ “giải phóng, ngụy quân, ngụy quyền” một cách quen thuộc thiếu ý thức không còn sỉ diện gì nữa, dù “cha mẹ mình, chú bác mình, bạn hữu mình,...” vốn là các Chiến sĩ anh dũng gian khổ trăm bề đã từng đổ xương máu bảo vệ mình một thời bình yên để ăn học, tu luyện... trong mấy chục năm trời !!!

® Ngày nay, với những bằng chứng quá rõ về sự sai lầm của CSVN, không chỉ trong một số công việc, mà sai lầm tận trong bản chất học thuyếtphạm các tội ác đặc biệt nghiêm trọng cách có hệ thống và kéo dài gần cả thế kỷ, như Nghị quyết 1481 ngày 25-01-2006 của Nghị viện Hội đồng Châu Âu gồm 46 Nước vừa khẳng định, thế mà nhiều người vẫn được coi là “trí thức, sĩ phu” vẫn chưa dứt khoát được trong nhận thức là CSVN thực sự tốt hay xấu ? Một hệ thống bạo quyền như vậy mà tiếc thay một số người vẫn còn mơ hồ cho là cần thiết sao ? Thực ra nó đã quá hãi hùng cho toàn Dân VN rồi !!!

NCSHB, dựa vào những kiến thức quân bình, xác thực, những thông tin rộng rãi đa phương, nhìn thẳng vào thực tế Việt Nam hôm nay (2006), bình tĩnh tìm mọi phương cách ôn hòa - văn minh, chỉ nguyên bằng lời nói và chữ viết (không la lối, thóa mạ, cường điệu, chửi rủa...), để quyết tâm nỗ lực chấm dứt CSVN, chuyển đổi Quê hương theo kinh nghiệm thành công của đại đa số các Nước văn minh toàn cầu, đặc biệt là các Nước Bắc Âu.

4- Có tâm hồn luôn hoà bình nhân từ : NCSHB không có hận thù với bất cứ ai. Kiên quyết lên án tội ác, độc đoán, nhưng luôn đầy cảm thông và trắc ẩn đối với Nhân viên của Bạo quyền. Với các Anh hùng Dân tộc chính danh, CNSHB luôn cảm phục. Còn đối với các đối tượng khác, NCSHB nên luôn biết cảm thông. Chính tâm hồn hòa bình làm tăng sức chiến đấu cho chúng ta, khiến chúng ta trở nên vô địch.

5- Biết sử dụng Internet : Mọi chế độ độc tài và nhất là CSVN dùng sự bưng bít, xuyên tạc, dối gạt thông tin và sự sợ hãi của toàn Dân, kể cả sự sợ hãi của chính chủ tịch đảng, chủ tịch “nước”, để kéo dài sự thống trị và nô dịch Dân. Vì vậy, Thông tin Ngôn Luận là vũ khí lợi hại nhất để giúp Dân thắng nỗi sợ hãi truyền kiếp và nhận thức đúng Sự Thật của Đất nước. Từ đó, Dân sẽ biết cách tập hợp thành sức mạnh để giải thể Chế độ CS. (Tìm đọc “Làm sao thắng sợ hãi” ngày 24-8-2005 của Lm Nguyễn Văn Lý).

Bởi vậy, nhất là trong thời đại thông tin toàn cầu hiện nay, NCSHB phải thông thạo sử dụng Internet, phải coi Internet là vũ khí lợi hại nhất để thắng gian tà một cách hợp pháp mà Bạo quyền CS rất khó đối phó. Lý do là vì CSVN dù biết Internet là tử huyệt của mình, vẫn buộc lòng phải giao lưu với Quốc tế và vẫn phải rêu rao với Quốc tế rằng VN là văn minh thông thoáng. NCSHB phải biết dựa vào điều 5,1 ; 5,2 & 19,2 của Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc ; mục I, 2 chương II của Sách Trắng về Nhân quyền - Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam : “Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người Dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet” để tận dụng Internet. Vì tất cả mọi hạn chế về Internet, nếu có, đều trái với nguyên tắc nầy của Sách Trắng do Bộ Ngoại giao Nước CHXHCV công bố tại Hà Nội, ngày 18.8.2005 và Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982 (Phụ lục 2).

6- Đi vào một kế hoạch thực tế do một tập thể nào đó chỉ đạo sát với tình hình Đất nước : Không mơ hồ, hoang tưởng, không cầu toàn, không sử dụng bạo lực trong ngôn từ cũng như trong hành động, không do dự chần chừ, không quá dè dặt đa nghi đâu cũng thấy “cò mồi”/ “chó săn” / “đấu tranh cuội” / “tay sai CS”. Mặc dù NCSHB chỉ liên kết với những ai biết dứt khoát với ông Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Cộng sản như một điều kiện duy nhất, không mơ hồ trong vấn đề rất cơ bản nầy, nhưng NCSHB phải mạnh dạn tin vào lương tri lành mạnh của người Dân bình thường đã biết thế nào là CS, luôn thao thức cho một tương lai của Đất nước sớm tươi sáng hơn ; biết tin tưởng vào một tập thể tương đối chưa lý tưởng, chỉ cần cùng một tâm ý và có một ban điều hành tạm biết làm việc ; có tinh thần đoàn kết, trung thực và kỷ luật. Dần dần tập thể ấy sẽ biết liên kết với các tập thể khác để trở thành các liên minh lớn mạnh hơn hầu từng bước giành lại 26 Nhân quyền cơ bản cho toàn Dân VN (Phụ lục 1).

7- Thái độ khi đối diện với Bạo quyền CSVN :

7.1- Công An / Cán bộ CS đến thăm tại nhà : Trong chế độ CS, khi Cán bộ / Công an của tà quyền / bạo quyền (từ đây xin gọi chung là CB, Dân quen gọi là Cá) đến thăm tại nhà, sự thường ai cũng lo sợ. NCSHB cần ứng xử thật chuẩn như sau :

CB đến thăm tại nhà tức là mới đàn áp bước 1, là tìm cách tiếp cận chúng ta để chỉ thăm dò tìm phương án. Chưa có gì nghiêm trọng.

Vừa cầu nguyện, vừa bình tĩnh, lịch sự trong tâm ý chủ động chinh phục CB, chiến thắng sự quấy rối tâm trí (mind harassment) của bộ máy công quyền chuyên đàn áp, khủng bố Dân rất điêu luyện.

Chủ yếu lắng nghe, nói rất ít hoặc cố gắng yên lặng tối đa để xem thâm ý các CB muốn gì. Tuyệt đối tránh hấp tấp cãi lại, nổi nóng sẽ sinh nhiều sơ hở. Thường CB không đủ lý do chính đáng trong lương tâm để đàn áp Dân, nên hay vòng vo rất lòng thòng trước khi để lộ thâm ý là tìm cách để đàn áp chúng ta một vấn đề gì đó. Chúng ta hãy để yên cho CB chiếm đoạt thời giờ quý giá của chúng ta để CB tự cảm thấy đã mắc nợ chúng ta, đã gây ra “mind harassment” chúng ta cách phi pháp. Đó là nguyên cớ để lần sau chúng ta có lý do khước từ sự “mind harassment” cách bất công ấy.

Hãy hết sức ôn tồn, nhỏ nhẹ để tránh trả lời các vấn đề xét thấy các CB không có quyền dò hỏi bằng cách “tỏ ra ngạc nhiên” không hiểu chuyện đó liên quan thế nào đến “an ninh cho Tổ quốc” ? / tảng lờ cho CB bị mất thêm thời gian tìm cách vòng vo để nhập đề lại. Nếu cần trả lời, phải biết cách trả lời khôn ngoan sao cho kín đáo lạc đề chừng nào hay chừng đó để chứng tỏ mình đã quá mõi mệt khi được “phúc” công bộc của chế độ hạ cố đến tệ xá kiểu phát xít trá hình nầy và chuyển được sự đã quá chán ngán của người Dân đối với chế độ vào tâm trí các CB nầy để họ phải lây nhiễm sự chán ngán ngay chính nầy.

Tránh hết sức để khỏi nhận lãnh ân huệ “chiếu cố giúp đỡ” của Tà quyền / Bạo quyền.

7.2- Bị CB gửi “Giấy Mời” đến cơ quan Bạo quyền : Bước đàn áp 2 : Có thể sẽ dẫn đến Lệnh Triệu tập. NCSHB nên đối phó & chủ động tấn công như sau :

Phải đi Photo ngay Giấy mời nầy để làm bằng chứng đấu tranh. Khi đến cơ quan (CA, UBND phường / xã) nên “để quên” Giấy mời bản gốc ở nhà, hoặc đã có bản Photo lưu ở nhà rồi.

Vì chúng ta cũng phải làm ăn sinh sống, nên nếu Giấy mời được gửi tới quá sát (chiều cùng ngày, hôm sau...), chúng ta không cần phải đi, vì phải thu xếp công ăn việc làm, không sợ sệt vu vơ. Mời tức chúng ta có quyền đi hoặc không.

Khi đã đoán biết nội dung cuộc gặp, chúng ta có quyền không đi. Trường hợp xét thấy đi chỉ thêm nguy hại, chúng ta không nên đi. Sau 3 lần không đi, có thể sẽ có Giấy Triệu tập vì lý do “không chấp hành” Giấy mời.

Đến cơ quan, NCSHB phải coi đây là cơ hội để chinh phục bạo quyền, không nôn nóng được về, không nôn nóng mong xong việc. CB còn nôn nóng hơn chúng ta & không hứng thú gì khi đàn áp chúng ta cả, chẳng qua cũng chỉ hèn hạ làm theo lệnh trên vì miếng cơm manh áo thôi. Hãy cố gắng kiềm chế để chỉ nghe và hầu như không cần trả lời hoặc kẹt lắm thì cũng chỉ rất ít trả lời & trả lời thật vắn. Vì chúng ta chỉ sử dụng vũ khí bất bạo động và quyền tự do thông tin ngôn luận thôi, nên chúng ta không vi phạm luật pháp công minh nào hết. Các Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư,... của một Bạo quyền mâu thuẫn với các Công ước Quốc tế đều không có giá trị, vì chúng phải ở dưới các Công ước Quốc tế. Chúng thường cũng mâu thuẫn với Hiến pháp năm 1992 của chính Bạo quyền nầy nữa. Vậy chúng ta cứ bình tĩnh ngồi nhắm mắt cầu nguyện và lắng nghe xem CB ngụy biện thế nào, nói sơ hở ra sao. Nếu cần chúng ta tấn công nhẹ nhàng vào chỗ sơ hở đó. Hãy tận dụng tối đa nguyên tắc “vô chiêu thắng hữu chiêu”, “tịnh chế động”. Hãy hiên ngang, bình tĩnh, nhỏ nhẹ để dùng chính nghĩa của mình mà chinh phục CB.

Tuy là được mời, nhưng vẫn để bị “thẩm cung”, lấy bằng chứng để CB xử lý chúng ta & bạn hữu chúng ta. Do đó, cần khôn ngoan ứng xử để thoát khỏi các loại “bẫy cung” của tà quyền. Càng phải im lặng và rất ít nói. Hãy cho CB biết rằng : Nếu chúng ta đang sống trong một Nước văn minh thì yêu cầu VN tuân thủ các Công ước Quốc tế. Nếu VN có pháp luật riêng mâu thuẫn với các Công ước ấy thì Nhà cầm quyền VN là một Bạo quyền độc đoán. Đối với một Tà quyền độc tài, chúng ta vui lòng chịu bất công, không đối thoại được, chỉ cần im lặng chịu bất công thôi. Không cần nói thêm gì nữa.

Hãy từ chối viết “tường thuật”, ký các biên bản mà mình biết sẽ ràng buộc về pháp lý về sau.

7.3- Bị “Triệu tập” : Bước đàn áp 3 : Đối với Bạo quyền, chúng ta bị “Triệu tập” tức là bị coi có “vấn đề” nghiêm trọng gì đó, cần điều tra, “giáo dục”,... Thái độ của chúng ta chỉ nên như khi bị “Giấy Mời” thôi, nhất là phải photo lưu Giấy Triệu tập ; mấy lần là mấy bản lưu.

® Bị triệu tập là đương nhiên phải bị “thẩm cung”. NCSHB lại càng cẩn trọng và biết sử dụng vũ khí vàng tuyệt vời là cầu nguyện trong im lặng, lãnh đạm và có thể bị cho là “khinh mạn”, cho dầu NCSHB không bao giờ khinh miệt ai. Dù đối với đối phương, NCSHB chỉ thông cảm và dùng cầu nguyện, yên lặng làm vũ khí tự vệ và chiến thắng Bạo quyền.

Dùng nguyên tắc của chính CSVN : “Dân được làm tất cả mọi việc Pháp luật không cấm, còn CB chỉ được phép làm những gì Pháp luật cho phép” để tự vệ & tố cáo lại các CB tác oai tác quái.

7.4- Bị cắt điện thư, điện thoại,... : Bước đàn áp 4 : Phải làm cho Bạo quyền biết biện pháp “phát xít” nầy vô ích trong thời đại thông tin bùng nổ nầy, vì chúng ta có quá nhiều bạn hữu để tiếp ứng nhau rồi.

7.5- Bị khám người, phòng, nhà và bị tịch thu, niêm phong đồ dùng : Bước đàn áp 5 :

Phải đòi cho được lệnh chính thức bằng văn bản. Giữ lệnh đó và lưu để khiếu nại về sau.

Khám người thì chỉ có CB nữ mới được quyền khám NCSHB nữ.

Khám nhà & khám phòng thì phía nạn nhân phải có đủ số nhân chứng ngang bằng với số CB cùng vào phòng / nhà. Nếu CB đông, người nhà chứng nhân cũng phải đông, để một kèm một, không cho CB đánh cắp hoặc bỏ tài liệu xấu vào.

Buộc CB viết biên bản đầy đủ, dù kéo dài bao lâu cũng phải làm.

Tố cáo trước công luận quốc tế về các “thủ đoạn phát-xít” nầy.

7.6. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam : Bước đàn áp 6 :

Đây là dịp để NCSHB tỏ lộ sĩ khí, anh hùng. Cần bình tĩnh, thản nhiên. Coi chuyện nầy là bình thường, là những bước đường NCSHB đương nhiên phải trải qua. Không thách thức, la lối, mắng chửi hoặc sợ hãi. Các thái độ ấy chỉ gây hại. Không nôn nóng sớm được thả. Không tỏ ra chúng ta cần về (để làm việc). Không tỏ ra ước muốn điều gì tầm thường để khỏi bị Bạo quyền dùng điều ấy làm áp lực các vấn đề quan trọng khác. Thời gian nầy NCSHB bị gọi là “Bị can”.

Nên ăn uống bình thường. Nếu cần tuyệt thực, phải tuyệt thực từ 30 ngày trở lên. Nên uống một ít nước lạnh mỗi khi thấy đói giữa các bữa cơm thông thường (# 9 h / 15 h / 21 h). Không tuyệt thực lắc nhắc # 3-7 ngày chỉ làm Bạo quyền nhàm lờn. Chỉ ngưng tuyệt thực khi đã đạt mục tiêu đấu tranh nào đó.

7.7. Bị đánh, tra tấn, nhục hình, mớm cung, ép cung : Bước đàn áp 7 : Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự năm 2003 của CSVN ngăn cấm tất cả các điều nầy. Nhưng nếu bị đánh & các màn khác thì sao ? Cần can đảm thẳng thắn phản kháng, tự vệ. Và cho biết chúng ta sẽ tố cáo các điều nhơ nhớp nầy trước công luận quốc tế.

7.8. Bị nghe đọc cáo trạng : Bước đàn áp 8 : Từ đây NCSHB bị gọi là “bị cáo”. Bịt tai lại không nghe. Đừng bận tâm đến mức án độc đoán với các tội danh xảo trá chỉ có trong các chế độ “phát-xít” : tuyên truyền chống chế độ, chống đối chính sách, phá hoại đoàn kết, gây rối trật tự trị an, lợi dụng dân chủ, lợi dụng tôn giáo,... Hãy tự hào về giá NCSHB phải trả cho Tự do Dân chủ của Tổ quốc Dân tộc và tin cậy vào sự can thiệp của Quốc tế.

7.9. Bị đưa ra Tòa án xử : Bước đàn áp 9 : Chỉ cần làm một việc duy nhất là im lặng trước tòa án trò hề của Bạo quyền là danh dự của nền tư pháp xảo trá của độc đảng sẽ bị nhận xuống bùn nhơ.

7.10. Bị đưa vào trại giam (trước đây gọi là trại cải tạo) : Bước đàn áp 10 : Từ đây NCSHB bị gọi là “bị án” / “phạm nhân”. Hiên ngang vui chịu cảnh tù đày và tự coi mình là tù nhân lương tâm, không chấp nhận bị gọi là phạm nhân. Hiện nay cơm no, có rau, thức ăn gia đình không tiếp tế được thì anh em tù chia sớt cho nhau không đến nỗi bệnh tật. Đồ ấm gia đình có thể lo được. Không cần mong đợi giảm án. Chắc chắn vì NCSHB không chủ trương & không làm gì bạo động nên không thể bị án quá nặng.

7.11. Bị viết kiểm điểm, được giảm án, được thả : Bước đàn áp 11 : Hiện nay cứ 3 tháng NCSHB bị buộc viết 1 bản kiểm điểm thái độ cải tạo. Điều 2,3,4 về nội quy, đọc sách báo, lao động thì rất dễ viết. Chỉ có điều 1 là rất khó viết : mục đích của tà quyền là bắt chúng ta nhận tội. Nếu không nhận thì bị biệt giam, kiên giam tù túng, không cho gặp thân nhân, nhận thư / quà và không thể được thả sớm. Nếu nhận tội thì trái lương tâm. Vậy tùy loại tội danh mà nên viết thế nào cho ổn thỏa lương tâm. Có những tội danh không thể nhận được, ví dụ “gián điệp”, “bạo loạn”,... Có những tội danh có thể khôn khéo viết theo kiểu chơi chữ : “Vì danh dự của Nhà Nước VN, tôi chấp nhận thi hành án”. Trước đây, hầu hết các Nhân viên Chế độ Sài Gòn đều viết : “Tôi an tâm cải tạo” (chỉ có ý nói tôi an tâm tu sửa bản thân, không trốn trại). Tốt nhất là hiên ngang ở cho hết án và trông đợi sự can thiệp của Quốc tế.

7.12. Bị ràng buộc sau khi ra khỏi tù : Bước đàn áp 12 : Thường khi nhận Giấy Ra Trại không có ràng buộc gì, nhưng khi về trình diện tại địa phương thì rất dễ bị ràng buộc. Vậy, ngay từ đầu, khi về lại đia phương, NCSHB phải biết đề kháng không sợ hãi, không chịu sự ràng buộc phi lý. Và Bạo quyền phường, xã không thể đủ bản lãnh để ràng buộc chúng ta, nên lờ đi để chúng ta yên. Ví dụ, quy định phải trình diện hàng tháng, đi ra khỏi xã, phường phải xin phép,... Nếu chúng ta không chấp nhận, thì Bạo quyền ấy cũng không áp đặt chúng ta được, đành chỉ biết xí xóa cho qua.

Chúng ta lại tiếp tục chiến đấu.

Chúc quý bạn luôn an vui và thành công trong Sự nghiệp đem Tự do Dân chủ đến cho Tổ quốc & Đồng bào thân yêu. Mến chào tất cả các CSHB của VN ! @

Tù nhân lương tâm Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý - Huế, 30.4.2006

Phụ Lục 1 26 Nhân quyền cơ bản

đã được Công pháp Quốc tế và Liên Hiệp Quốc thừa nhận

& buộc mọi Nước thành viên phải cam kết tôn trọng.

26 mục tiêu cụ thể

mỗi Công dân có trách nhiệm phải đấu tranh

từng bước giành lại cho toàn Dân Việt Nam từ năm 2006 về sau.

I. Các Nhân quyền về thân thể :

1. Quyền sống (không bị thủ tiêu, tàn sát, khủng bố, đe dọa, quấy nhiễu vì chính kiến, chủng tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp).

2. Quyền không bị nô lệ hay nô dịch (vì lý lịch, chủng tộc, tôn giáo, chính kiến).

3. Quyền không bị tra tấn hành hạ.

4. Quyền không bị giam giữ độc đoán (vì các tội vu vơ chỉ có trong các chế độ độc tài : gây rối trật tự, phá hoại chính sách đoàn kết, lợi dụng tôn giáo, lợi dụng dân chủ, xúc phạm lãnh tụ,...).

5. Quyền được xét xử công bằng (tư pháp phải độc lập với hành pháp, lập pháp, công an)

6. Quyền được Tòa án bảo vệ (được bồi hoàn danh dự và thiệt hại).

7. Quyền được Luật pháp bảo vệ (không có loại tội tuyên truyền chống chế độ, chống đối chính sách).

8. Quyền được bình đẳng trước pháp luật.

II. Các Nhân quyền về an cư :

9. Quyền tự do cư trú và đi lại, xuất ngoại và hồi hương (không bị quản chế hành chánh).

10. Quyền có đời sống riêng (bản thân, gia đình, nhà cửa, thư tín, điện thoại, điện thư).

11. Quyền kết hôn và lập gia đình.

12. Quyền có quốc tịch.

13. Quyền tỵ nạn vì lý do chính trị, tôn giáo, chủng tộc.

14. Quyền tư hữu về vật dụng cá nhân, gia đình, tập thể và vốn kinh doanh.

III. Các Nhân quyền về lạc nghiệp :

15. Quyền có việc làm, lương tương xứng và được nghỉ ngơi - giải trí.

16. Quyền thành lập và tham gia Nghiệp đoàn độc lập và quyền đình công.

17. Quyền có mức sống xứng hợp cho bản thân và gia đình.

18. Quyền có an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội khi thất nghiệp, già lão.

19. Quyền bảo vệ gia đình về hôn nhân, sản phụ, hài nhi, thiếu nhi.

20. Quyền được chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh miễn phí hoặc hợp lý, được bảo hiểm y tế.

21. Quyền được giáo dục miễn phí cấp tiểu học, rồi trung học ; học đại học đầy đủ thuận lợi.

22. Quyền về văn hóa (tự do hưởng thụ, sáng tác, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).

IV. Các Nhân quyền về Tự do Dân chủ :

23. Tự do tín ngưỡng - tôn giáo cách bình thường phổ quát như tại đại đa số các Nước trên thế giới.

24. Tự do tư tưởng, phát biểu, quan điểm, tự do thông tin ngôn luận, tự do báo chí.

25. Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, biểu tình; toàn Dân được trưng cầu ý kiến về quốc sự.

26. Quyền tham gia công quyền, tự do ứng cử - bầu cử ; Quyền tham gia xây dựng, bảo vệ và quản lý Tổ quốc. Tức là Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

(Tham khảo Từ Hiến Chương 1977 cho Tiệp Khắc đến Tuyên Ngôn 2006 cho Việt Nam”

của Luật sư Nguyễn Hữu Thống – 15.4.2006)

Phụ lục 2

I. Trích “Hiến pháp Nước CHXHCN VN” năm 1992.

Điều 69 : Công dân có quyền Tự do Ngôn luận, Tự do Báo chí ; có quyền được thông tin ; có quyền

hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

*** Hiến pháp vừa xác nhận 5 quyền xong, thì cụm từ “theo quy định của pháp luật” phủ nhận lại 5 quyền đó ngay. Các NNCS Âu Á đều luôn luôn biết ngụy biện chơi chữ như vậy. Kết quả là suốt 60 năm qua VNCS không có một tờ báo độc lập hoặc tư nhân nào cả, 6 TG lớn ở VN không hề có một tờ báo nào của chính TG mình, và nguyên việc photo và chuyền tay nhau đọc bản văn nầy đã có thể bị CA mời “làm việc”, bị buộc viết kiểm điểm, bị cắt điện thoại, bị đuổi khỏi trường học/sở làm, bị dọn vệ sinh ở phường/xã, bị không cho vay vốn “quỹ vì người nghèo”, bị “giam” bằng tốt nghiệp đại học, bị quản chế, bị đưa vào trại tù đội lốt là trại “cơ sở giáo dục”, hoặc bao phiền lụy đau đớn khác… cũng chỉ vì Quốc hội Độc đảng bù nhìn

mà ra.

Đây chính là quyền tự do dân chủ ưu việt định hướng XHCN của VN rất đẹp mặt giữa văn minh toàn cầu hiện nay đó !!! Còn những ai cố tình dùng pháp luật độc đoán để ngăn cấm quyền Tự do Ngôn luận rất chính đáng của người Dân, thì không còn gì để nói với họ nữa, người Dân chỉ còn biết cách tự nguyện đưa 2 tay vào còng số 8 và hiên ngang tự hào mình là một chiến sĩ hòa bình đích thật của nền

Dân chủ Đa đảng Văn minh chân chính của VN mới.

II. Trích “Sách Trắng về Nhân quyền - Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam: Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người Dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet(chương II, mục I.2). Tất cả mọi hạn chế về Internet, nếu có, đều trái với nguyên tắc nầy của Sách Trắng do Bộ Ngoại giao Nước CHXHCNV

công bố tại Hà Nội, ngày 18.8.2005.

III. Trích “Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị”, của LHQ 16.12.1966,

Việt Nam gia nhập 24.9.1982.

Đìêu 5,1: Không được phép giải thích bất kỳ một quy định nào của Công ước nầy…nhằm hủy bỏ bất kỳ quyền và tự do nào được công nhận trong Công ước nhằm giới hạn những quyền và tự do đó quá

mức độ quy định trong Công ước nầy.

Điều 5,2: Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ bất kỳ quyền cơ bản nào của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn tại ở một quốc gia thành viên của Công ước nầy trên cơ sở luật điều ước, các quy định pháp luật, hoặc tập quán với cớ là Công ước nầy không công nhận những quyền ấy hoặc công nhận ở một

mức độ thấp hơn.

Điều 19,2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác

tuỳ theo sự lựa chọn của họ.

(Các Văn kiện Quốc tế về Quyền Con người, NXB Tp HCM, 1997 trang 109,110,117).

*** Các Nhà nước độc tài thường lạm dụng điều 19,3,b : đại ý : quyền ở khoản 2 điều 19 trên đây có thể bị hạn chế phần nào “để bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của

công chúng(nguyên văn). Nhưng vấn đề then chốt là:

1/- Ai ai có lương tri đều hiểu An ninh Quốc gia được gia tăng chỉ khi toàn Dân được thông tin thông thoáng, tiếp cận tình hình thế giới, mở rộng tầm nhìn, nhận thức đầy đủ lành mạnh đúng đắn. Trái lại chính việc Nhà cầm quyền độc quyền bưng bít hoặc bịa chuyện để lừa gạt Dân như Phát-xít (như bịa chuyện “Lê Văn Tám (có đường, trường học, công viên… mang tên) và mạo danh UNESCO tôn vinh HCM là “nhà Văn hóa nổi bật của thế giới”(?!)) mới là một trong các nguyên nhân tất yếu làm Tổ quốc suy tàn bi thảm, Dân tình tang thương biến loạn.

2/- “An ninh quốc gia”, “đoàn kết dân tộc” hay an toàn cho thế lực độc tôn cai trị và độc quyền làm

giàu luôn được tự đồng hóa với Dân tộc, Quốc gia một cách rất ngụy biện xảo trá ?

3/- Dùng đến phương tiện nào thì mới gây hại cho “Quốc gia”: đao kiếm, súng đạn, quân đội, khủng bố hay chỉ là 1 Email, 1 văn bản từ Internet ? Phải có tiêu chí rõ ràng được LHQ công nhận như điều 19,2 trên đây, nếu VN không muốn không giống ai giữa nhân loại văn minh hôm nay, làm gì có chuyện “đi trước đón đầu”, dân chủ ưu việt hơn bất cứ hình thức dân chủ nào trên thế giới” như Nhà cầm quyền CSVN hằng rêu rao ??? v


1LỜI HIỆU TRIỆU

CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN VIỆT NAM - ÐẠI DIỆN CHO THANH NIÊN
SINH VIÊN VIỆT NAM NGAY TỪ QUÊ HƯƠNG.
KÍNH GỬI ÐẾN QUỐC DÂN ÐỒNG BÀO.
(Xin vui lòng dịch thuật ra các ngoại ngữ khác nhau
để truyền đến các giới truyền thông trên thế giới)

TINH THẦN CỦA HỘI NGHỊ SINH VIÊN THANH NIÊN DIÊN HỒNG,
THANH NIÊN SINH VIÊN VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT
LÀ BẤT DIỆT

Ngày 26 tháng 6 năm 2000 là ngày hội của sinh viên thanh niên Việt Nam yêu tự do dân chủ ngay tại Việt Nam. Ðã từ lâu, thanh niên Việt Nam đã trải qua quá nhiều mất mát hy sinh. Bị lợi dụng để đổ máu,bảo vệ cho giai cấp cộng sản thống trị thực hiện tham vọng mưu cầu quyền lợi trên thảm cảnh tan hoang của nước nhà. Bị chà đạp nhân phẩm, để làm con ở, thằng hầu cho giai cấp con cháu đảng viên đặc quyền đặc lợi lộng hành phép nước,báng bổ cả tổ tiên. Mua thần, bán thánh, đem nguyên bản chế độ thống trị cộng sản từ ngoài nước để áp đặt lên dân nghèo nước Việt, lợi dụng chiêu bài yêu nước để thu phục rồi đàn áp nhân tâm trong nước. Hãm hại người tài, bức bách kẻ sĩ. Làm những chuyện "trời không dung,đất không tha" để rồi phủi tay im lặng,hoặc nói : "rút kinh nghiệm" để qua truông. Ðảng cộng sản Việt Nam chính là đại diện duy nhất cho tập đoàn giai cấp thống trị cộng sản trên phải chịu trách nhiệm chính thức cho tội ác của mình.Việc trước tiên, Ðảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân nhìn nhận là không còn chổ đứng trong lòng dân tộc nữa. Nhân dân Việt Nam không chấp nhận Ðảng cứ vì đã lỡ đi theo lý thuyết chuyên chính vô sản cực đoan đã bị nhân dân trên thế giới chán ghét loại bỏ mà cố duy trì quyền lực thống trị bằng thủ đoạn bất lương. Nhân dân Việt Nam kiên quyết loại bỏ Ðảng cộng sản Việt Nam ra khỏi xã hội, khỏi lịch sử ngàn năm văn hiến của dân tộc.Ðảng không còn quyền để "nhìn nhận sai lầm" như một chiêu bài trốn tránh trách nhiệm, để sau đó, Ðảng lại tiếp tục các sai lầm nối tiếp. Ðảng cộng sản Việt Nam đã được nhân dân nhìn nhận như một tập đoàn ăn cắp, nhũng lạm công quỹ, tài nguyên của quốc gia trắng trợn nhất trong lịch sử dân tộc.

- Bởi vì những lẽ trên, nhân dân Việt Nam không giao phó bất cứ "sứ mạng lịch sử" nào mà Ðảng tự nhìn nhận là mình được giao phó.

- Bởi vì những lẻ trên, nhân dân Việt Nam không chấp nhận Ðảng Cộng sản tồn tại - Dù cho sau này - Ðảng có tự thay đổi cho mình một chiếc áo khoác khác,có tên gọi mỹ miều hơn - chắc chắn cũng sẽ bị nhân dân đạp đổ.

- Dân tộc Việt Nam, người dân Việt Nam không bao giờ nhìn nhận rằng : Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo Cộng sản của ông ta có công trong công cuộc đấu tranh giành độc lập , giải phóng dân tộc.

- Dân tộc Việt Nam, người dân Việt nam xác quyết chắc chắn rằng : công cuộc giành độc lập dân tộc là của toàn dân Việt Nam, của truyền thống chống giặc lâu đời, của sự hy sinh mất mát của chính người dân đổ ra mới có được. Ðảng cộng sản chỉ lợi dụng cục diện chiến tranh trên thế giới để tự nhận công lao ấy thuộc về mình. Nhân dân Việt Nam phủ nhận tư cách chính trị của Ðảng cộng sản Việt Nam qua sự kiện gian dối trên của Ðảng.

Bởi vậy:

- Ðảng cộng sản Việt Nam phải tức khắc giải tán để nhường quyền chọn lựa đại diện của nhân dân Việt Nam cho chính nhân dân Việt Nam lựa chọn bằng bình chọn dân chủ của nhân dân. Sinh viên thanh niên Việt Nam - những công dân rường cột của quốc gia yêu cầu nhân dân thực thi quyền lực của mình bằng những việc làm sau:

- Xé bỏ bản hiến pháp áp đặt của chính quyền cộng sản
- Giải thể chính quyền cộng sản.
- Giải tán quốc hội bù nhìn của cộng sản.
- Xoá bỏ sự thừa nhận quyền lực thống trị của Ðảng cộng sản Việt Nam.

Sinh viên thanh niên Việt Nam qua đại hội thanh niên sinh viên Diên Hồng lần thứ nhất . Ðại hội kế thừa tinh thần hội nghị Diên Hồng ngàn năm của dân tộc Việt Nam ngày xưa - chính thức cảnh cáo chính quyền và Ðảng cộng sản Việt Nam rằng :

Một: nếu còn cố nắm giữ quyền lực không được nhân dân chấp nhận , sẽ bị trừng trị đích đáng.

Hai: nếu còn tiếp tục ăn cắp,chuyển tài nguyên, công quỹ quốc gia vào tư túi, nhường quyền lợi, đất đai của cha ông cho ngoại bang sẽ bị nhân dân xử tội đích đáng.

Ba: Cảnh cáo lần cuối cùng đối với Ðảng cộng sản Việt Nam và biến tướng của nó về sau nếu có: nên biết sợ uy lực của nhân dân Việt Nam, chớ cực đoan, bạo động cố chấp mà bị nguy hại nghiêm trọng về sau.

Sinh viên thanh niên Việt Nam qua đại hội thanh niên sinh viên Diên Hồng lần thứ nhất . Ðại hội kế thừa tinh thần hội nghị Diên Hồng ngàn năm của dân tộc Việt Nam ngày xưa - chính thức đưa ra lời hiệu thanh niên Việt nam rằng :

Hãy đứng dậy đi hỡi những công dân thanh niên Việt Nam có lòng yêu nước. Hãy đòi quyền được sống, được làm người, quyền được tư do ngôn luận, tự do hoạt động cho nhân quyền và dân quyền của người dân. Hãy đoàn kết lại mà tranh đấu. Nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh. Tinh thần của hội nghị thanh niên sinh viên Diên Hồng - thanh niên sinh viên Việt Nam là bất diệt.

Saturday, April 22, 2006

LỜI TUYÊN BỐTađêô Nguyễn Văn Lý và Phêrô Phan Văn Lợi

LỜI TUYÊN BỐ

Loi Tuyen Bo Quyet Liet cua 2 Linh muc

NVL & PVL 22-4-2006

Huế, Việt Nam, ngày 22 tháng 4 năm 2006

Chúng tôi, 2 Linh mục Giáo hội Công giáo Việt Nam là

Tađêô Nguyễn Văn Lý và Phêrô Phan Văn Lợi

xin đồng thanh tuyên bố với công luận toàn cầu rằng :

1- Căn cứ trên các Công ước quốc tế của Liên Hiệp Quốc mà Nhà cầm quyền CSVN đã cam kết tham gia để bảo đảm 26 Nhân quyền cơ bản của mọi công dân liệt kê dưới đây. Cụ thể nhất là Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền ; và Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử cũng theo Công ước Quốc tế nói trên, điều 25 : Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.

2- Do đó, cùng với 116 Công dân đang sống tại Việt Nam, hai chúng tôi đã ký tên chung trong Lời Kêu gọi cho Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận ngày 20-2-2006 ; Lời Kêu gọi Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam năm 2006 ngày 06-4-2006 và Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 ngày 08-4-2006 ; cùng với hai Linh mục Têphanô Chân Tín và Phêrô Nguyễn Hữu Giải, chúng tôi đã ký tên chung trong Lời Kêu Gọi Bầu Cử Quốc Hội Đa Đảng Và Tẩy Chay Bầu Cử Quốc Hội Độc Đảng Năm 2007 ngày 17-10-2005 ; và cùng với Linh mục Têphanô Chân Tín, chúng tôi đã tự xuất bản Bán Nguyệt san Tự Do Ngôn Luận bắt đầu từ ngày 15-4-2006.

3- Nhà cầm quyền CSVN hãy cứ dùng 600 tờ báo, hàng trăm đài truyền thanh và truyền hình thuộc quyền mình để thuyết phục 84 triệu Dân Việt và Cộng đồng Quốc tế, nếu có đủ sức mạnh của Lẽ Phải và Sự Thật và hãy để Nhóm nhỏ 118 chúng tôi, với phương tiện rất thô sơ là một Bán nguyệt san nghèo khổ, tự do truyền đạt đến mọi người thiện chí Sự Thật, Lẽ Phải và các Nhân quyền cơ bản mà Liên Hiệp Quốc đã thừa nhận cùng luôn đòi buộc mọi thành viên phải tuân giữ. Nếu thô bạo bóp chết Bán nguyệt san đó thì rõ ràng Bạo quyền CSVN muốn bóp chết Tự do, Công lý, Dư luận cách vô cùng độc đoán, và như thế chỉ tiếp tục dìm Đất nước vào cảnh tụt hậu kinh tế, hỗn loạn xã hội, băng hoại đạo đức và khủng hoảng nhân cách mà thôi.

4- Vậy, nếu Bạo quyền CSVN khám xét, cướp đoạt Bán Nguyệt san nói trên và các phương tiện làm việc của chúng tôi, bắt giam hoặc đuổi khỏi sở làm 01 trong số 118 Công dân thuộc Nhóm 118 hoặc trong số Công dân tham gia ủng hộ ngày càng đông, thì khi nhận được thông tin xác thực, Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý sẽ tuyệt thực vô thời hạn ngay lập tức để phản đối hành động vi phạm Công pháp Quốc tế nầy của Bạo quyền CSVN. Nếu Linh mục Phan Văn Lợi bị khám xét, cướp đoạt các phương tiện làm việc hoặc bị bắt, thì Linh mục nầy sẽ tuyệt thực ngay lập tức vô thời hạn. Cả hai chúng tôi sẽ từ khước ký vào mọi biên bản tịch thu tang vật và từ khước mọi cuộc hỏi cung liên quan đến vấn đề trên, vì chúng tôi cho đó là hành vi rất tàn ác xấu xa của một tà quyền chỉ y như một đảng cướp.

Cùng công bố và ký tên :

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý

Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

Tham chiếu : 26 Nhân quyền cơ bản

đã được Công pháp Quốc tế và Liên Hiệp Quốc thừa nhận

& buộc mọi Nước thành viên phải cam kết tôn trọng.

26 mục tiêu cụ thể

mỗi Công dân có trách nhiệm phải đấu tranh

từng bước giành lại cho toàn Dân Việt Nam từ năm 2006 về sau.

I. Các Nhân quyền về thân thể :

1. Quyền sống (không bị thủ tiêu, tàn sát, khủng bố, đe dọa, quấy nhiễu vì chính kiến, chủng tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp).

2. Quyền không bị nô lệ hay nô dịch (vì lý lịch, chủng tộc, tôn giáo, chính kiến).

3. Quyền không bị tra tấn hành hạ.

4. Quyền không bị giam giữ độc đoán (vì các tội vu vơ chỉ có trong các chế độ độc tài : gây rối trật tự, phá hoại chính sách đoàn kết, lợi dụng tôn giáo, lợi dụng dân chủ, xúc phạm lãnh tụ,...).

5. Quyền được xét xử công bằng (tư pháp phải độc lập với hành pháp, lập pháp, công an)

6. Quyền được Tòa án bảo vệ (được bồi hoàn danh dự và thiệt hại).

7. Quyền được Luật pháp bảo vệ (không có loại tội tuyên truyền chống chế độ, chống đối chính sách).

8. Quyền được bình đẳng trước pháp luật.

II. Các Nhân quyền về an cư :

9. Quyền tự do cư trú và đi lại, xuất ngoại và hồi hương (không bị quản chế hành chánh).

10. Quyền có đời sống riêng (bản thân, gia đình, nhà cửa, thư tín, điện thoại, điện thư).

11. Quyền kết hôn và lập gia đình.

12. Quyền có quốc tịch.

13. Quyền tỵ nạn vì lý do chính trị, tôn giáo, chủng tộc.

14. Quyền tư hữu về vật dụng cá nhân, gia đình, tập thể và vốn kinh doanh.

III. Các Nhân quyền về lạc nghiệp :

15. Quyền có việc làm, lương tương xứng và được nghỉ ngơi - giải trí.

16. Quyền thành lập và tham gia Nghiệp đoàn độc lập và quyền đình công.

17. Quyền có mức sống xứng hợp cho bản thân và gia đình.

18. Quyền có an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội khi thất nghiệp, già lão.

19. Quyền bảo vệ gia đình về hôn nhân, sản phụ, hài nhi, thiếu nhi.

20. Quyền được chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh miễn phí hoặc hợp lý, được bảo hiểm y tế.

21. Quyền được giáo dục miễn phí cấp tiểu học, rồi trung học ; học đại học đầy đủ thuận lợi.

22. Quyền về văn hóa (tự do hưởng thụ, sáng tác, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).

IV. Các Nhân quyền về Tự do Dân chủ :

23. Tự do tín ngưỡng - tôn giáo cách bình thường phổ quát như tại đại đa số các Nước trên thế giới.

24. Tự do tư tưởng, phát biểu, quan điểm, tự do thông tin ngôn luận, tự do báo chí.

25. Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, biểu tình; toàn Dân được trưng cầu ý kiến về quốc sự.

26. Quyền tham gia công quyền, tự do ứng cử - bầu cử ; Quyền tham gia xây dựng, bảo vệ và quản lý Tổ quốc. Tức là Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

(Tham khảo Từ Hiến Chương 1977 cho Tiệp Khắc đến Tuyên Ngôn 2006 cho Việt Nam

của Luật sư Nguyễn Hữu Thống 15.4.2006)

TỪ HIẾN CHƯƠNG 1977 CHO TIỆP KHẮC

ĐẾN TUYÊN NGÔN 2006 CHO VIỆT NAM

Ls NGUYỄN HỮU THỐNG – 15-4-2006

Năm 1975, 35 quốc gia Châu Âu và Châu Mỹ ký Thỏa Ước Helsinki, cam kết tôn trọng những quyền tự do cơ bản của con người.

Qua năm sau, 1976, hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc được phê chuẩn để có hiệu lực chấp hành .

Năm 1977, tại Tiệp Khắc, Hiến Chương 77 được công bố với trên 200 người ký tên tham gia. Hiến Chương kêu gọi chính phủ Tiệp Khắc - đã phê chuẩn hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền và ký kết Thỏa Ước Helsinki – phải tôn trọng lời cam kết bằng cách thực sự thi hành nhân quyền cho người dân.

Chính phủ Cộng Sản Tiệp phản ứng bằng cách bắt giữ 3 người chủ xướng. Với chủ trương không bạo động nhưng không nhượng bộ, mỗi năm có 3 đại biểu mới đứng ra chịu trách nhiệm phổ biến Hiến Chương để sẵn sàng ngồi tù.

Đến năm 1989, có trên 1.500 người đã tham gia Hiến Chương. Đồng thời với phong trào giải thể cộng sản tại Đông Âu, cuối năm 1989 cuộc Cách Mạng Tiệp Khắc thành công. Người chủ xướng Hiến Chương 77, Vaclav Havel được quốc dân bầu làm Tổng Thống Tiệp Khắc đầu tiên trong kỷ nguyên hậu cộng sản.

Ngày 8-4-2006, 118 Nhà Tranh Đấu Dân Chủ tại quốc nội đã công bố bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 cho Việt Nam.

Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền tại hải ngoại hoan nghênh và yểm trợ phong trào đấu tranh đòi thiết lập chế độ dân chủ pháp trị, đa nguyên đa đảng, thay thế chế độ độc tài đảng trị.

Bản Tuyên ngôn nầy đã đặt nền tảng cho các mục tiêu lớn mà Dân tộc Việt Nam phải đạt tới : Thay đổi thể chế độc tài và đòi hỏi các Nhân quyền và Dân quyền cơ bản nhất.

Muốn xây dựng tự do dân chủ cho Việt Nam đường lối hữu hiệu nhất là đấu tranh cho nhân quyền. Vì nhân quyền là mục tiêu chung của những người Việt Nam yêu nước, là mẫu số chung để kết hợp lòng người.

Hai mục tiêu chiến lược là truyền bá nhân quyền và đấu tranh đòi thực thi nhân quyền.

Muốn phát động đấu tranh phải nâng cao dân trí và chấn hưng dân khí.

Để nâng cao dân trí trước kia chúng ta có Phong Trào Truyền Bá Quốc Ngữ. Ngày nay, trong kỷ nguyên thông tin, chúng ta có những phương tiện truyền thông tân kỳ.

Muốn chấn hưng dân khí chúng ta phát động Phong Trào Truyền Bá Nhân Quyền để phổ biến những kiến thức nhân quyền cho quảng đại quần chúng nhất là giới thanh niên sinh viên là những người thiết tha với tiền đồ dân tộc. Có kiến thức nhân quyền người dân sẽ biết rõ họ có quyền đòi thực thi những quyền gì, và những quyền này đã bị tước đoạt ra sao ? Từ đó họ sẽ công phẫn và cảm thấy tủi hổ phải sống dưới một chế độ phi nhân, độc tài, tham nhũng, bất công và bất lực. Từ chỗ phẫn tâm đó mới nẩy ra ý chí đấu tranh.

Từ khi con người biết sống hợp quần trong xã hội để thành lập quốc gia, giữa người dân và quốc gia có những nghĩa vụ hỗ tương phát sinh từ một khế ước mặc nhiên mệnh danh là khế ước xã hội. Chiếu khế ước này người dân có nghĩa vụ phải đóng thuế để nuôi dưỡng quốc gia, phải đi lính để bảo vệ bờ cõi của quốc gia. Để đáp lại những hy sinh về sinh mạng và tài sản của người dân, quốc gia cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người dân những quyền cơ bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là những dân quyền xuất phát từ tư cách công dân.

Nhân quyền bao quát hơn và có trước dân quyền. Nhân quyền xuất phát từ nhân phẩm, từ giá trị bẩm sinh của con người. Đây là những quyền của con người như những quyền dân sự chính trị mà cũng là những nhu cầu của con người như những quyền kinh tế xã hội và văn hóa. Những quyền này xuất phát từ tư cách con người và tư cách công dân.

Các nước tự do dân chủ đặt vấn đề nhân quyền toàn diện, gồm cả những quyền kinh tế xã hội (cơm ăn, áo mặc, y tế, giáo dục) và những quyền dân sự chính trị (tự do nhân thân, tự do tinh thần, tự do chính trị).

Kinh nghiệm cho biết những vấn đề kinh tế xã hội chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng trong chế độ tự do dân chủ. Vì nếu không có một chính phủ dân chủ thì những lợi ích kinh tế đạt được rồi cũng sẽ bị phe cầm quyền tước đoạt bằng tham nhũng và lạm quyền.

Từ thế kỷ 13 Anh Quốc ban hành Đại Hiến Chương (Magna Carta) để đề xướng và bảo vệ quyền tự do nhân thân cho người dân không bị bắt bớ, giam giữ, lưu đầy hay hành quyết nếu không có bản án hợp pháp. Đại Hiến Chương không cho phép nhà nước bắt giam phòng ngừa, quản thúc tại gia hay “quản chế hành chánh” những người đối kháng có dũng cảm đứng lên đòi cải thiện đường lối và chính sách quốc gia.

Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (1776) nhìn nhận quyền bình đẳng của con người là một chân lý hiển nhiên, và đề xướng những nhân quyền cơ bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp (1789) nêu lên 3 mục tiêu tự do, bình đẳng, bác ái và cảnh giác nhân loại rằng : “Sự phủ nhận, khinh miệt hay lãng quên nhân quyền là nguyên nhân đem lại đại bất hạnh cho người dân và sa đọa cho chính quyền. Mục đích của mọi tập hợp chính trị là để bảo toàn những quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng”.

Từ thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, Mạnh Tử cũng chủ trương người dân có quyền đứng lên lật đổ bạo quyền : “Ta chỉ nghe nói giết tên Trụ chứ không nghe nói giết vua”. Đó là quan niệm quý dân khinh vua (dân vi quý, quân vi khinh) mở đường cho chế độ dân chủ với một “chính quyền bởi dân, của dân và vì dân” (Abraham Lincoln).

Năm 1941, tại diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ, Tổng Thống Franklin Roosevelt đề xướng 4 quyền tự do cơ bản :

1. Tự do ngôn luận (freedom of speech).

2. Tự do tín ngưỡng (freedom of belief).

3. Quyền được giải thoát khỏi sự túng thiếu (freedom from want).

4. Quyền được giải thoát khỏi sự sợ hãi (freedom from fear), sợ hãi do nạn xâm lược bên ngoài và chuyên chế bên trong.

Lời Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng nhắc lại 4 quyền cơ bản này : “Việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và sự khốn cùng, được tuyên dương là nguyện vọng cao cả nhất của con người.”

Chiếu Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các quốc gia hội viên cam kết cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc tôn trọng và thực thi nhân quyền trên toàn cầu. (Điều 55-56)

Vì nhân quyền có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với nhau, quốc gia có trách nhiệm tiên khởi và có nghĩa vụ phải thực sự thi hành đầy đủ và đồng đều nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tôn giáo, chính kiến, hay thành phần xã hội.

Với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, vấn đề nhân quyền đã được quốc tế hóa. Từ nay các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc không thể chủ trương rằng việc họ thủ tiêu, tàn sát hay đàn áp các công dân của họ chỉ là vấn đề nội bộ !

Để kỷ niệm ngày ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, ngày 10 tháng 12 mỗi năm được gọi là Ngày Quốc Tế Nhân Quyền.

Năm 1994, Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Nghị Quyết Chung lấy ngày 11 tháng 5 mỗi năm là Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam. Nghị Quyết này đã được Tổng Thống Hoa Kỳ phê chuẩn và ban hành để trở thành Luật Công Pháp ngày 25-5-1994 (số 103. 258), với nội dung chủ yếu như sau :

“Quốc Hội Hoa Kỳ yêu cầu Chính Phủ Hà Nội :

1. Phóng thích tất cả các tù nhân chính trị.

2. Bảo đảm cho nhân dân Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt tín ngưỡng, chính kiến, hay đoàn thể trong quá khứ.

3. Phục hồi các nhân quyền cơ bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại và tự do lập hội.

4. Bãi bỏ chế độ độc đảng.

5. Công bố một phương án và lịch trình tổ chức tổng tuyển cử tự do và công bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để nhân dân Việt Nam được hành sử quyền dân tộc tự quyết. Lập trường chung thủy của Nhân Dân và Quốc Hội Hoa Kỳ đem lại hứng khởi cho Nhân Dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi Tự Do, Công Lý, Dân Chủ và Nhân Quyền.

LUẬT QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN.

Nhân quyền và những quyền tự do cơ bản được quy định trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành sau Thế Chiến 2. Mục đích để đề cao nhân phẩm, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, hoà giải thân thiện cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Đại Hòa trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị.

Luật Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm những điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998), Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị (1966) và Công Ước Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa (1966). Ngòai ra còn có khoảng 60 Công Ước bổ túc và khai triển.

Luật Quốc Tế Nhân Quyền là văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong thời đại chúng ta. Hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là hai hiệp ước quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử loài người.

Bước sang thiên niên kỷ mới, chúng ta kỳ vọng rằng, rồi đây bạo lực sẽ nhường chỗ cho thuyết phục, chiến trường sẽ nhường chỗ cho hội trường và chiến tranh thế giới sẽ bị thay thế bởi luật pháp quốc tế. Trong niềm tin tưởng đó chúng ta phát động Phong Trào Truyền Bá Nhân Quyền Cho Việt Nam.

Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng Quyền Dân Tộc Tự Quyết và 26 Nhân Quyền cơ bản.

QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT.

Quyền thiết yếu trong chế độ dân chủ là quyền dân tộc tự quyết.

Dân tộc tự quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Dân tộc tự quyết gồm có quyền tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị. Lời Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng nhận định rằng : “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền.”

Theo Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ “khi chính quyền vi phạm nhân quyền, người dân có quyền hủy bỏ chính quyền để thiết lập một chính quyền mới đặt căn bản trên những nguyên tắc và thể chế thuận lợi nhất cho việc bảo đảm an ninh và hạnh phúc của con người. Lịch sử đã chúng minh rằng nhân loại thường muốn chịu nhẫn nhục khổ cực hơn là muốn đứng lên đấu tranh để giải trừ các chế độ đã thiết lập từ lâu. Tuy nhiên với thời gian, nếu chính quyền vẫn ngoan cố tiếm đoạt và lạm quyền để siết chặt guồng máy thống trị bạo tàn bằng chế độ chuyên chính tuyệt đối, người dân có quyền và có nghĩa vụ đứng lên lật đổ chính quyền để giành lại những bảo đảm cho cuộc sống tương lai. Trải qua bao nhiêu giai đoạn đàn áp chúng ta đã thỉnh cầu chính quyền cải tổ bằng những lời lẽ nhu hòa nhất. Vậy mà bao nhiêu thỉnh cầu kế tiếp của chúng ta chỉ được trả lời bằng những thóa mạ thường xuyên. Chính quyền này đã biểu lộ cá tính của một bạo quyền. Nó không còn xứng đáng lãnh đạo một dân tộc tự do”

Tâm trạng và ý nguyện của người dân Hoa Kỳ cách đây hơn 200 năm cũng là tâm trạng và ý nguyện của người dân Việt Nam hôm nay.

CÁC NHÂN QUYỀN CƠ BẢN

Năm 1977, khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cam kết thi hành Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945) và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948). Năm 1982 Việt Nam tham gia hai Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa, nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng các Công Ước này. Đó là các hiệp ước quốc tế đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.

Ngoài Quyền Dân Tộc Tự Quyết, Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng 26 Nhân Quyền Cơ Bản chia thành 4 loại như sau :

1) Những quyền dân sự cho bản thân con người (hay Quyền Tự Do Nhân Thân)

2) Những quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội (hay Quyền An Cư)

3) Những quyền kinh tế xã hội và văn hóa (hay Quyền Lạc Nghiệp)

4) Những quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (hay Quyền Tự Do Dân Chủ)

TỰ DO NHÂN THÂN THUỘC VỀ THÂN

TỰ DO TINH THẦN VÀ TỰ DO CHÍNH TRỊ THUỘC VỀ TÂM.

CÙNG VỚI NHỮNG QUYỀN AN CƯ VÀ LẠC NGHIỆP, .MỤC TIÊU TỐI HẬU CỦA NHÂN QUYỀN LÀ TẠO ĐIỀU KIỆN CHO CON NGƯỜI ĐƯỢC THÂN TÂM AN LẠC.

A. QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN

Để kết nối 8 Quyền Tự Do Nhân Thân chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng :

1) Con người có nhân quyền từ khi mới sinh. Cha mẹ sinh ra ta và cho ta Quyền Sống. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế trừng phạt những tội chống nhân loại như thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể

Muốn sống cho ra sống phải có tự do thân thể và an ninh thân thể.

2) Có tự do thân thể thì Không Bị Nô Lệ hay Nô Dịch (như nô lệ tình dục).

3) Có an ninh thân thể thì Không Bị Tra Tấn Hành Hạ.

4) Có an ninh thân thể thì Không Bị Giam Giữ Độc Đoán.

5) Nếu bị bắt giam và bị truy tố ra tòa thì Được Xét Xử Công Bằng.

6) Nếu sự xét xử không công bằng và bị tuyên phạt oan ức thì Được Tòa Án Bảo Vệ bằng cách buộc nhà nước phải bồi thường thiệt hại.

7) Tòa Án bảo vệ con người căn cứ vào luật pháp. Luật Pháp cũng Bảo Vệ Con Người. Luật Pháp không công nhận các tội giả tạo như “tuyên truyền chống nhà nước”, “lợi dụng quyền tự do dân chủ”, “chống chính sách đoàn kết dân tộc”,...

8) Luật pháp bảo vệ con người một cách đồng đều không phân biệt kỳ thị. Mọi người đều có tư cách pháp nhân để được Quyền Bình Đẳng Trước Pháp Luật.

Đó là 8 quyền dân sự cho bản thân con người mệnh danh là Quyền Tự Do Nhân Thân.

B. QUYỀN AN CƯ

Để kết nối 6 Quyền An Cư chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng :

1. Quyền An Cư trước hết là quyền tự do cư trú và đi lại. Chính sách quản chế hành chánh phải bị bãi bỏ.

2. Muốn có một đời sống an cư trong xã hội, đời tư và danh dự của con người phải được tôn trọng. Đó là quyền riêng tư.

3. Quyền riêng tư áp dụng cho bản thân và gia đình vì con người có quyền kết hôn và lập gia đình.

4. Gia đình là một đơn vị của xã hội. Con người sống trong quốc gia xã hội và được quốc gia ban cho quyền quốc tịch để trở thành công dân.

5. Nếu bị quốc gia đàn áp sống không nổi, con người có quyền rời bỏ quốc gia để đi tỵ nạn tại các quốc gia khác.

6. Muốn bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống an lạc, con người phải có quyền tư hữu.

Đó là 6 quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội mệnh danh là Quyền An Cư.

C. QUYỀN LẠC NGHIỆP

Để kết nối 8 Quyền Lạc Nghiệp là những quyền kinh tế xã hội và văn hóa, chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng :

1. Muốn lạc nghiệp phải có cơ hội hành nghề và được quyền làm việc.

2. Khi làm việc phải được trả lương tương xứng và công bằng. Để có bình đẳng giao ước phải công nhận cho công nhân quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công.

3. Làm việc để có mức sống khả quan cho bản thân và gia đình.

4. Nếu không thể làm việc được, không thể tự lực mưu sinh được, thì được quyền an sinh xã hội.

5. Quyền an sinh xã hội còn áp dụng cho các sản phụ, hài nhi và thiếu nhi trong chính sách bảo trợ gia đình. Các gia đình có con nhỏ và có lợi tức yếu kém được hưởng trợ cấp tài chánh và trợ cấp y tế.

6. Quyền y tế miễn phí được phổ cập cho tất cả mọi người trong các nước dân chủ xã hội Bắc Âu.

7. Giáo dục tiểu học phải được cưỡng bách và miễn phí. Giáo dục trung học và đại học cũng phải tiến dần đến miễn phí.

8. Có giáo dục mới có văn hóa. Về mặt kinh tế, tác quyền của văn nghệ sĩ và các sáng chế phát minh của nhà khoa học phải được quốc gia bảo vệ. Về mặt tinh thần, tự do sáng tác của văn nghệ sĩ và tự do nghiên cứu của nhà khoa học phải được quốc gia tôn trọng.

Từ đó chúng ta bước sang những Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị mệnh danh là Quyền Tự Do Dân Chủ.

D. QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ

Trước hết là những quyền tự do tinh thần như tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo (quyền thứ nhất)

Kế tiếp là những quyền tự do chính trị như tự do tư tưởng và tự do phát biểu, tự do ngôn luận và báo chí (quyền thứ hai)

Có tư tưởng, có tin tức, ý kiến, thì phải có cơ hội trao đổi tư tưởng, trao đổi tin tức, ý kiến bằng tự do hội họp, tự do lập hội và tự do lập đảng (quyền thứ ba)

Các cá nhân và chính đảng có những chủ trương đường lối ích quốc lợi dân phải có cơ hội thực thi chủ trương này bằng quyền tham gia chính quyền và tự do tuyển cử (quyền thứ tư). Chế độ độc tài toàn trị phải bị bãi bỏ.

Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nhấn mạnh về nghĩa vụ của mọi người phải “bảo vệ dân chủ, đề xướng và phát huy các xã hội dân chủ, các định chế dân chủ và các thủ tục sinh hoạt dân chủ”.

1. Tự Do Tín Ngưỡng và Tự Do Tôn Giáo (Freedom of Belief and Religion).

Quyền tự do tôn giáo bao gồm quyền thờ phụng, quyền truyền giáo và hành đạo. Đòi tự do tôn giáo cũng là đòi phóng thích các tù nhân tôn giáo đã bị giam giữ hay quản thúc độc đoán, đòi cho các giáo hội được sinh họat tự trị, đồng thời đòi lại các cơ sở văn hóa giáo dục và xã hội từ thiện để hoằng dương đạo pháp.

2. Tự Do Tư Tưởng và Tự Do Phát Biểu (Freedom of Thought and Expression)

a) Tại Việt Nam ngày nay Đảng Cộng Sản vi phạm quyền tự do tư tưởng bằng cách nắm giữ độc quyền tư tưởng để truyền bá học thuyết Mác-Lê phản dân tộc, phản nhân loại tại các trường công lập.

Trong chương trình giáo dục tương lai, chúng ta sẽ không giảng dạy các học thuyết chính trị tại các trường phổ thông công lập. Thay vào đó, tại cấp tiểu học, chúng ta sẽ giảng dạy cho các em về những tình cảm tự nhiên trong Đạo Làm Người như tình gia đình, tình thầy trò, tình bạn bè, tình lối xóm, tình yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, yêu nhân loại, yêu thiên nhiên và yêu súc vật.

Đến bậc trung học chúng ta sẽ giảng dạy cho các học sinh những quyền lợi và nghĩa vụ công dân, đặc biệt nhấn mạnh đến nhân quyền và dân quyền. Từ hai thiên niên kỷ nay, người dân bị đè nén, bóc lột. Họ chỉ nghe nói về bổn phận và nghĩa vụ chứ chưa từng nghe nói về quyền con người và quyền công đân. Đề cao nhân quyền và dân quyền để chấn hưng dân khí, cho người dân đứng lên giành lại quyền làm chủ xã hội, cho con người được phát triển toàn diện, có phần “con”(động vật) là những nhu cầu, mà cũng có phần “người” là những quyền tự do dân chủ.

Tại bậc đại học Luật Quốc Tế Nhân Quyền sẽ được giảng dạy vì luật này còn quan trọng hơn cả luật hiến pháp. Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề cao nhân phẩm, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, hòa giải thân thiện cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Đại Hòa trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị. Đây là giấc mơ ngàn đời của nhân lọai theo đó người trong bốn biển đều là anh chị em.

b) Nhà cầm quyền Hà Nội còn vi phạm quyền tự do phát biểu bằng cách cấm tư nhân ra báo. Mọi bài viết có tính đối kháng sẽ bị gán vào tội phản nghịch hay tuyên truyền chống nhà nước.

Theo Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp “quyền tự do phát biểu là một trong những quyền cao quý nhất của con người. Mọi người đều có quyền nói, viết, in ấn tự do và chỉ chịu trách nhiệm khi vi phạm luật pháp”.

Theo Luật Báo Chí áp dụng tại Miền Nam Việt Nam thời Pháp thuộc, công dân được tự do ra báo mà không phải xin giấy phép hay kiểm duyệt trước (prior censorship). Chỉ khi nào nhà báo xâm phạm danh dự hay quyền lợi của người khác, hoặc vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay thuần phong mỹ tục, lúc đó biện lý hay nạn nhân mới có quyền khởi tố nhà báo ra tòa để trả lời về trách nhiệm hậu kiểm của họ (subsequent liability).

Luật Quốc Tế Nhân Quyền bảo vệ quyền tự do phát biểu trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Dân Sự Chính Trị : “Ai cũng có quyền giữ vững quan niệm mà không bị người khác can thiệp. Ai cũng có quyền tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến các tin tức ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.” (Điều 19).

Hồi giữa thế kỷ 19, vì tôn trọng quyền tự do phát biểu, Tòa Án Luân Đôn đã không truy tố Các Mác vì những quan điểm phát biểu trong bản “Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản”, kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên dùng vũ trang lật đổ chế độ tư bản.

3. Tự Do Hội Họp và Tự Do Lập Hội (Right of Assembly and Freedom of Association)

Có tư tưởng, có tin tức, ý kiến thì phải được quyền trao đổi tư tưởng, trao đổi tin tức, ý kiến với các thân hữu trong các cuộc gặp gỡ nhờ có tự do hội họp và tự do lập hội.

Hội họp như diễn thuyết, họp báo, tham dự mít tinh, biểu tình, tuần hành để đạo đạt thỉnh nguyện lên nhà cầm quyền, phản kháng những vi phạm nhân quyền và đấu tranh đòi thực thi nhân quyền.

Lập hội có hai loại, hội dân sự và hội chính trị :

a) Lập hội dân sự để thực thi những mục tiêu đạo đức tôn giáo, (giáo hội), kinh tế xã hội (công đoàn, nghiệp đoàn), thông tin văn hoá giáo dục (hội ký giả, nhà văn, nhà giáo, phụ huynh học sinh), ái hữu tương tế (hội học sinh, sinh viên, phụ nữ, cao niên), từ thiện nhân đạo (Hội Hồng Thập Tự, Hội Truyền Bá Quốc Ngữ, Hội Bảo Vệ Nhân Quyền) hay thể dục thể thao v.v... Những hội đoàn này họp thành xã hội dân sự trong một xã hội đa nguyên. Các hội dân sự được quyền sinh họat tự trị, không chịu sự can thiệp hay giám sát của nhà nước. Do đó các giáo hội quốc doanh phải được giải tán, các công đoàn nhà nước phải được thay thế bằng các công đoàn độc lập, công đoàn tự do.

b) Ngoài các hội dân sự còn có các hội chính trị hay chính đảng trong chế độ dân chủ đa đảng.

Dân chủ đa đảng cộng với xã hội đa nguyên họp thành Dân Chủ Đa Nguyên. Chế độ Dân Chủ Đa Nguyên lên án chế độ độc đảng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Điều 4 Hiến Pháp phải bị bãi bỏ.

4. Quyền Tự Do Tuyển Cử và Quyền Tham Gia Chính Quyền (Rights to Free Election and to Participate in Government)

Các chính đảng và các cá nhân có những chủ trương đường lối ích quốc lợi dân phải có cơ hội thực thi những chủ trương đường lối này bằng quyền tham gia chính quyền.

Tham gia chính quyền trực tiếp như ứng cử vào các chức vụ công cử (tổng thống, thủ tướng, dân biểu, nghị sĩ v...v...), hay gián tiếp bằng cách bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền. Đây là quyền tự do tuyển cử, một hình thức của Quyền Dân Tộc Tự Quyết, theo đó người dân có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Trái với quan niệm cổ xưa theo đó nguồn gốc chủ quyền xuất phát từ quốc gia, Luật Quốc Tế Nhân Quyền minh định rằng “ý nguyện của người dân được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia. Ý dân phải được biểu lộ trung thực qua những cuộc tuyển cử tự do và công bằng, theo phương thức đầu phiếu phổ thông, định kỳ và kín.” (Điều 25 Công Ước về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị).

Quyền Tham Gia Chính Quyền (quyền thứ 26) kết nối với Quyền Dân Tộc Tự Quyết để hoàn thành sợi dây chuyền xuyên suốt. Đây là sợi dây chuyền kết bằng 26 viên ngọc trai chúng ta dành riêng để tặng đồng bào trong nước.

Về mặt chính trị, Đảng Cộng Sản hứa hẹn thiết lập một chế độ dân chủ gấp triệu lần chế độ dân chủ Tây Phương. Đây chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền. Chúng ta không so sánh Việt Nam với các nước Tây Phương, và cũng không so sánh Việt Nam với các nước dân chủ Á Châu như Nhật Bản, Ấn Độ, Đại Hàn, Đài Loan, Mã Lai, Tân Gia Ba, Thái Lan, Phi Luật Tân v...v... Chúng ta hãy lấy nước láng giềng Căm Bốt làm đối tượng so sánh mức độ dân chủ của hai nước trong bán đảo Đông Dương.

Bốn thước đo dân chủ là : tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội và tự do tuyển cử.

Chấm 100 điểm cho 4 quyền tự do, mỗi quyền được tối đa 25 điểm.

1) Tự do tôn giáo

Căm Bốt : Tương đối không có đàn áp tôn giáo : 15 điểm.

Việt Nam : Đàn áp tôn giáo theo chính sách và tiêu diệt tôn giáo theo chủ thuyết : 0 điểm.

2) Tự do báo chí

Căm Bốt : Có các báo đối lập và độc lập : 10 điểm.

Việt Nam : Công dân không được quyền ra báo : 0 điểm.

3) Tự do lập đảng

Căm Bốt : Có ít nhất 3 đảng, Đảng Nhân Dân của Hun Sen, Đảng Bảo Hoàng của Ranariddh và Đảng Quốc Gia của Rainsy : 15 điểm.

Việt Nam : Đảng Cộng Sản là độc đảng : 0 điểm.

4) Tự do tuyển cử

Căm Bốt : Trong những cuộc bầu cử mới đây, Đảng Nhân Dân chỉ được chừng 40% số phiếu, ngang với số phiếu đối lập của Đảng Bảo Hoàng và Đảng Quốc Gia : 10 điểm.

Việt Nam: Với chính sách “đảng cử dân bầu”, người dân chỉ có quyền bầu lên các đại biểu do Đảng Cộng Sản cử ra : 0 điểm.

Tổng cộng : Căm Bốt : 50 điểm; Việt Nam : 0 điểm.

Đây là mối nhục cho Việt Nam. Từ ngày lập quốc chưa bao giờ uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế lại sa sút như vậy !

Việt Nam hiện nay đứng chót trong bậc thang tự do dân chủ của 200 quốc gia trên thế giới, kém cả Căm Bốt.

Trong bậc thang kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay là một trong những nước nghèo đói nhất trên thế giới, kém cả Congo và ngang Bắc Hàn.

Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/45 tại Tân Tây Lan, 1/26 tại Đài Loan, 1/25 tại Đại Hàn, 1/8 tại Mã Lai, 1/5 tại Thái Lan, 1/2 tại Phi Luật Tân, 3/5 tại Indonesia, và chỉ bằng 3/4 tại Congo. Theo Encyclopedia Britannica Book of The Year 2005, lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam năm 2003 là 480 mỹ kim so với 640 mỹ kim tại Congo và 457 mỹ kim tại Bắc Hàn.

Ngày nay lịch sử đã chứng minh rằng Đảng Cộng Sản không có tư cách và khả năng lãnh đạo quốc gia.

Và chế độ Độc Tài Đảng Trị phải được giải thể để người dân hành sử Quyền Dân Tộc Tự Quyết, thiết lập chế độ Dân Chủ Pháp Trị, trong đó các nhân quyền và dân quyền được tôn trọng, kinh tế quốc gia được phát triển và công bằng xã hội được thực thi.

T.M. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN QUYỀN

Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG - 15.4.2006

PHỤ ĐÍNH : 26 NHÂN QUYỀN CƠ BẢN (Thân An - Lạc Tâm)

Đối tượng tượng phải biết để đấu tranh đạt cho được trong một nền Dân chủ lành mạnh

THÂN AN LẠC TÂM

QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN (8)

(Quyền Dân sự cho bản thân con người)

1. Quyền sống.

Chống thủ tiêu cá nhân. Chống tàn sát chủng tộc (Do Thái), tôn giáo (Cao Đài, Công giáo, Hòa Hảo, Phật giáo), chính kiến (Mậu Thân), thành phần xã hội (cải cách ruộng đất).

2. Không bị nô lệ hay nô dịch.

Tự do thân thể.

3. Không bị tra tấn

hành hạ.

An ninh thân thể.

4. Không bị giam giữ độc đoán.

An ninh thân thể.

5. Được xét xử công bằng.

Thẩm phán độc lập.

Quyền biện hộ.

6. Được Tòa Án bảo vệ.

Bồi thường thiệt hại.

7. Được Luật Pháp bảo vệ.

Không có tội tuyên truyền chống chế độ.

8. Được bình đẳng trước pháp luật.

Con người có tư cách pháp nhân (person).

QUYỀN AN CƯ (6)

(Quyền Dân sự trong

xã hội, sống an bình trong xã hội)

1. Quyền tự do cư trú và đi lại, xuất ngoại và hồi hương. Không bị Quản Chế Hành Chánh.

2. Quyền riêng tư.

Bản thân - gia đình -

nhà cửa - thư tín - điện thoại - điện tín.

3. Quyền kết hôn và lập gia đình.

Sống trong quốc gia.

4. Quyền có quốc tịch.

5. Quyền tỵ nạn.

Đàn áp chính trị, tôn giáo, chủng tộc.

6. Quyền tư hữu.

An cư : nhà ở.

Lạc nghiệp : vốn kinh doanh.

QUYỀN LẠC NGHIỆP (8)

(Quyền Kinh tế Xã hội và Văn hóa Giáo dục)

1. Quyền làm việc.

Nghỉ ngơi và giải trí.

Trả lương tương xứng.

2. Tự do Nghiệp đoàn và Đình Công.

Bình đẳng giao ước.

3. Có mực sống khả quan cho bản thân và gia đình.

4. An sinh xã hội và bảo hiểm xã hội.

Thất nghiệp, già lão

5. Bảo vệ gia đình.

Sản phụ, Hài nhi, Thiếu nhi.

6. Quyền y tế.

Các nước Dân Chủ

Xã Hội Bắc Âu.

7. Quyền giáo dục.

Tiểu học, rồi Trung học miễn phí. Đại học rộng mở thuận lợi.

8. Quyền văn hóa.

Tác quyền, tự do.

QUYỀN TỰ DO

DÂN CHỦ (4)

(Tự do Tinh thần và Tự do Chính Trị)

1. Tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo.

Phúc trình Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ.

Phái bộ Điều Tra LHQ.

Nước bị đặc biệt quan tâm (CPC).

2. Tự do tư tưởng và phát biểu quan điểm.

Tự do báo chí.

Tự do ngôn luận.

3. Tự do hội họp và lập hội,

Mít tinh biểu tình.

Tự do lập đảng.

4. Quyền tham gia chính quyền.

Chống độc quyền lãnh đạo.

(Điều 4 Hiến Pháp).

Tự Do Tuyển Cử.

Đạo đạt thỉnh nguyện.

Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

Ngày 9-4-2006

Thư ngỏ

Kính gửi quý Ðồng hương tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới,

Thưa quý Ðồng hương,

Là những người tỵ nạn cộng sản, chúng ta biết rất rõ tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi. Chúng ta cũng thông cảm hơn ai hết niềm đau nỗi hận của đồng bào trong nước, đang phải sống dưới một chế độ cực kỳ độc tài, tham nhũng, và lạc hậu, coi con người như con vật.

Chính Nghị viện Âu châu mới đây, qua Nghị quyết 1481 ngày 25-1-06, cũng đã phải lên án tất cả các chế độ cộng sản, xưa và nay, là độc tài toàn trị, đàn áp nhân quyền, giết người hàng loạt.

Dù dân ta đã quá chán chường, mệt mỏi, nhưng cũng không thể chịu đựng mãi được sự hà khắc chưa từng có trong lịch sử, ngay giữa thời đại văn minh này, nên đã phải đứng lên đòi hỏi chính quyền phải cải thiện chế độ, trả lại tự do và nhân quyền cho người dân.

Gần đây, nhân dịp sắp có đại hội X của cộng đảng, đông đảo đồng bào đã lại góp ý, một lần nữa nhắc lại những yêu cầu thiết tha là Việt cộng phải hủy bỏ chế độ cộng sản, phải thực thi dân chủ, để có điều kiện diệt trừ tham nhũng, tái thiết quốc gia.

Nhưng bạo quyền vẫn làm ngơ, hơn nữa còn đe dọa những người đã dám lên tiếng, dù chỉ ôn hòa. Ðồng bào không còn lựa chọn nào khác hơn là phải tiếp tục cuộc đấu tranh, bất chấp mọi hiểm nguy trước bộ máy khủng bố khổng lồ và tàn độc của bọn cầm quyền.

Ðứng trước cuộc đấu tranh chính nghĩa, vô cùng bền bỉ và dũng cảm của đồng bào quốc nội, là người Việt còn chút ân tình với quê hương và đồng bào ruột thịt, chúng ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ. Ðây là lý do chúng tôi đã mạo muội đưa ra bản Lên Tiếng đính kèm, để góp phần muôn một vào cuộc đâú tranh vô cùng gian khổ của đồng bào quốc nội.

Chúng tôi rất mong mỏi đông đảo đồng hương sẽ hưởng ứng, cùng đứng tên ủng hộ bản Lên Tiếng này, để bản Lên Tiếng có thêm sức mạnh, ngõ hầu vận động quốc tế yểm trợ hữu hiệu công cuộc tranh đấu của dân tộc ta.

Quý vị đồng ý đứng tên, xin thông báo ngay cho Ban Vận động biết. Xin gửi về:

- email: dinhmai002@yahoo.com, Vantich1932@yahoo.de, hoang_dao@hotmail.com,

Uyen31@yahoo.ca, Vudamien@wmconnect.com,

- P.O. Box 8975, Newport Beach, CA 92658-0975, USA

- ÐT (714) 595-5672, (281) 855-0315, 49 228 689 7471 (Ðức quốc)

Xin ghi rõ tên, chức nghiệp, địa chỉ, điện thoại, hoặc email.

Trân trọng

Ban Vận động: Bs Nguyễn tuấn Anh, Nv Nguyễn gia Bảo, Ks Trần nam Bình, cựu ÐT

Hoàng-đạo Thế-Kiệt, Gs Dương minh Kính, Ts Nguyễn huy Long, cựu DB Vũ văn Quý,

Bs Trần Quyền, Nhân sĩ Nguyễn đại Thắng, Bs Trần văn Tích, Bs Từ Uyên, Bs Ðoàn Yến.

BẢN LÊN TIẾNG CỦA CÁC TRÍ THỨC, NHÂN SĨ, CỰU QUÂN NHÂN...

HẢI NGOẠI YỂM TRỢ CUỘC TRANH ÐẤU GIÀNH LẠI TỰ DO CỦA

DÂN TỘC VIỆT-NAM.

*****

Chúng tôi, một số người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới, đứng trước thảm trạng của dân tộc Việt-Nam:

1- Dù chiến tranh đã chấm dứt từ trên 30 năm và toàn thể đất nước đã nằm dưới quyền cai trị của cộng sản, dân tộc Việt-Nam chưa một ngày được hưởng độc lập, tự do, hạnh phúc, mà Hồ chí Minh và Cộng đảng đã hứa với toàn dân từ hơn 60 năm trước.

2- Trái lại, một chế độ hà khắc chưa từng thấy đã bao trùm lên đầu dân tộc Việt-Nam.

Tự do bị cướp đoạt. Nhân quyền bị chà đạp. Tôn giáo bị đàn áp. Giang sơn bị cắt xén dâng cho ngoại bang. Ðàn bà trẻ con bị bán làm nô lệ. Tham nhũng ngày càng lan tràn. Ðất nước lạc hậu thê thảm, nhục nhã đối với thế giới, kể cả với những nước lân bang nhỏ bé v.v.

3- Mọi tầng lớp dân chúng đã phải đứng lên bền bỉ đấu tranh ôn hòa trong bao nhiêu năm

để đòi lại tự do, no ấm. Nông dân đã đứng lên. Tín đồ tôn giáo đã đứng lên. Quần chúng đã đứng lên (khiếu kiện). Công nhân đã đứng lên. Nhiều nhà trí thức và cả đảng viên cộng sản cũng đã đứng lên. Nhưng lãnh đạo cộng sản chỉ đáp lại bằng những thủ đoạn trấn áp dã man, nham hiểm. Cuộc đấu tranh do đó cực kỳ khó khăn, hiểm nguy, lâu dài và gần như đơn độc.

4- Chính Nghị viện Âu châu mới đây cũng đã phải ra quyết nghị số 1481 (ngày 25-1-06),

mạnh mẽ lên án các chế độ độc tài toàn trị cộng sản, trong quá khứ cũng như hiện tại, là những chế độ bạo ngược nhất trong lịch sử nhân loại, và những kẻ cầm quyền cộng sản là những tội đồ đã vi phạm một cách quy mô nhân quyền và dân quyền của con người, trong đó có cả tội diệt chủng, giết người hàng loạt.

Ðây là một tài liệu lịch sử, là tiếng nói chính thức đầu tiên của thế giới về tai họa cộng sản đối với nhân loại. Ðối với dân tộc Việt-Nam, đây là một khích lệ lớn lao nhất từ trước đến nay.

Là những người Việt tỵ nạn cộng sản ở nước ngoài, chúng tôi thấy có nhiệm vụ phải một lần nữa mạnh mẽ lên tiếng:

Thứ nhất: Triệt để ủng hộ các cuộc tranh đấu đầy chính nghĩa của dân tộc Việt-Nam, đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản phải tích cực đáp ứng các đòi hỏi về tự do dân chủ của đồng bào;

Thứ hai: Nhiệt liệt hoan nghênh tiếng nói lương tri của các dân tộc Âu châu, qua nghị quyết

số 1481 ngày 25-1-2006;

Thứ ba: Thiết tha kêu gọi

- Các cơ quan Liên hiệp quốc, nhất là các Ủy ban đặc trách về Nhân quyền, về Lao động, và

về Pháp lý (Tòa án La Haye), một mặt yểm trợ các đòi hỏi chính đáng của dân tộc Việt-Nam, một mặt cứu xét sự vi phạm nhân quyền trầm trọng của chính quyền Việt cộng;

- Quốc hội Hoa kỳ, Canada, Úc đại lợi... có biện pháp hữu hiệu hơn nữa để buộc đảng Việt cộng phải trả lại các quyền tự do cho dân tộc Việt-Nam, như đã hứa với Hoa kỳ, đặc biệt là tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, và cụ thể là phải tổ chức bầu cử tự do, có quốc tế giám sát.

- Tổng liên đoàn Lao động Hoa kỳ yểm trợ tích cực cho giới công nhân Việt-Nam, nhất là đòi hỏi 8 điểm của họ, trong đó có đòi hỏi về quyền thành lập các tổ chức công đoàn độc lập.

Ngày 6-4-2006

Danh sách đứng tên trong bản Lên Tiếng Yểm trợ các cuộc đấu tranh của đồng bào quốc nội.

Hòa thượng Thích nguyên Lai, CA

MM of Canada Vũ xuân An Bs Nguyễn tuấn Anh, LA

Bs Trần Nguyễn Vân Anh, Ðức Bs Trần Nguyễn tuấn Anh, Ðức

Nhà văn Nguyễn gia Bảo, TX ÐSHC Ðào văn Bình, CA

Bs Nguyễn thanh Bình, Canada Ks Trần nam Bình, CA

Bs Vũ ngọc Bình, PA Cựu ÐT Ðoàn Bính, CA

Phạm thành Can, CA Ks Bùi xuân Cảnh, VA

Bs Lê thanh Cảnh, Úc Bs Nguyễn tiến Cảnh, Fl

Bs Trần văn Cảo, CA Cựu ÐT Nguyễn xuân Cảo, TX

Ts Lê duy Cấn, Canada Bs Bùi thế Cầu, Canada

Dược sĩ Cao thiện Chánh, CA Ks Hoàng mai Chào, CA

Ông Phan thanh Châu, CA Bs Phạm tu Chính, Pháp

Bs Nguyễn như Chương, CA Cựu TNCT Trần thế Cung, CA

Ks Hoàng đắc Cương, Ks Pham huy Cường, TX

Gs Tôn thất Diên, CA Gs Bùi mỹ Dương, CA

Bs Ngô vi Dương, Canada Cựu ÐT Nguyễn văn Ðại, OR

Bs Trần quốc Ðống, Úc Gs Kiều thế Ðức, MN

Bs Hoàng văn Ðức, CA Cựu TrTá Nguyễn đ. Giang, Canada

BSNK Nguyễn văn Giáp, Canada Bs Nguyễn duy Hảo, CA

Ðặng tấn Hậu, MBA, Canada Cựu ÐT/KQ Huỳnh hữu Hiền, TX

Ông Ngô ngọc Hiếu, Anh quốc Cựu ThTg Nguyễn duy Hinh, VA

Bs Nguyễn anh Hoàng, CA Ks Nguyễn văn Hoàng, CA

Cựu DB Phạm ngọc Hợp, CA Cựu ÐT Phan văn Huấn, CA

Ls Hoàng duy Hùng, TX BS Nguyễn thế Huy, Canada

Cựu ÐT Bùi trọng Huỳnh, CA Cựu Tp/GSV Phạm đình Hưng, CA

Nhà báo Nguyễn sĩ Hưng, CA Cựu NV Nguyễn tấn Khang, Canada

Gs Phạm hữu Khoát, Canada Cựu ChTg Trần quang Khôi, VA

Cựu ÐT Hoàng đạo Thế Kiệt, CA Ds Vũ thị Mỹ Kim, MN

Gs Dương minh Kính, CA Bs Trần mộng Lâm, Canada

Bs Hoàng cơ Lân, Pháp Cựu ThTg Bùi thế Lân, TX

Cựu ÐSHC Nguyễn ngọc Liên, CA Ts Nguyễn huy Long, VA

Ks Nguyễn hoàng Long, CA Ts Phạm kim Long, CA

Nhà NC Nh.văn Phạm T. Long, Ðức Bs Nguyễn đình Lý, CA

Ds Phạm đăng Lý, Pháp Cựu ÐT Tô đang Mai, CA

Bs Nguyễn đình Mão, Pháp Nhân sĩ Phùng dương Minh, CA

Ds Nguyễn đức Năng, CA TTT/BST Nguyễn văn Nghiêm, CA

Nhạc sĩ Vũ đức Nghiêm, CA Bs Cấn Thị Bích Ngọc, Canada

Gs/Bs Ðỗ thị Nhuận, CA Cựu ÐT Nguyễn hòa Phùng, TX

Cựu ÐT Trương như Phùng, TX Ds Lâm xuân Quang, Canada

Bs Nguyễn ngọc Quỳ, Pháp Cựu DB Vũ văn Qúy, TX

Bs Trần Quyền, CA Bs Lý hồng Sen, Canada

Bs Hoàng đức Sính, AZ Bs Cao xuân Sơn, VA

Ks Nguyễn thái Sơn, CA Bs Tôn thất Sơn, Na Uy

Thi si Hồ công Tâm, HK Ks hồi hưu Vũ văn Thái, Canada

Cựu SQ Trần hữu Thạnh, CA Ks Trần ngọc Thăng, CA

Nhân sĩ Nguyễn đại Thắng, VA Bs Ðặng Thiệm, LA

Cựu DB Nguyễn hữu Thời, CA Cựu ÐT Phạm văn Thuần, CA

Cựu TrTg Phạm quốc Thuần, OR Gs Nguyễn thị Thục, Ðức

Văn Thi sĩ Trương anh Thụy, VA Bs Trần văn Tích, Ðức

Bs Phạm gia Tiến, Thụy sĩ Thi sĩ Cao Tiêu/Hoàng N. Tiêu, CA

Bs Phạm ngọc Toả, Pháp Bs Phạm hữu Trác, Canada

Cựu TrTg Nguyễn bảo Trị, CA Cựu TrTg Trần văn Trung, Pháp

Bs Vũ thế Truyền, LA Cựu ChTg Mạch văn Trường, TX

Nhà NC/Ctrị Nguyễn A. Tuấn, OK Ts Lương tấn Tước, Anh quốc

Bs Từ Uyên, Canada Ls Trần Văn, CA

Cựu HQ/ÐT Bùi cửu Viên, VA Bs Nguyễn xuân Vinh, CA

Gs/Ts Nguyễn xuân Vinh, CA Bs Ðoàn Yến, CA

GOP Y NHUNG TO CAO DANG CONG SAN LA KHONG MUON DUY TRI CHE DO CONG SAN



Sinh viên Nguyễn Tiến Trung muốn góp ý cho báo cáo chính trị


Trước hết, tôi có nhận xét tổng quát rằng bản báo cáo khá xa rời thực tế, vẫn tiếp tục giáo điều kiểu cũ, nêu lên những thứ chung chung, không có chứng minh cụ thể. Phần « khuyết điểm và yếu kém » đã nêu ra được một số vấn đề gai góc của Việt Nam và những nguyên nhân chủ quan, nhưng vẫn chưa chỉ ra gốc rễ của vấn đề. Toàn bản báo cáo nêu các mục tiêu cần thực hiện nhưng không chỉ ra cách thức rõ ràng để thực hiện chúng. Từ ngữ trong bài sử dụng nhiều chỗ rất khó hiểu và nặng tính khẩu hiệu. Cả bài tôi thấy toàn những từ « huề cả làng » như « hoàn thiện », « cải tiến », « thực hiện », « kết hợp », « khuyến khích », « xây dựng », « tăng cường », « đẩy mạnh »... Một sinh viên chuẩn bị lấy bằng kĩ sư không hiểu rõ và không bị thuyết phục thì làm sao bản báo cáo có thể đi vào lòng dân tộc, nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân.

Vì những lý do trên, tôi xin đặt ra một số câu hỏi để các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước trả lời, nhằm giải thích cho sinh viên hiểu bản dự thảo một cách đúng đắn. Thanh niên, sinh viên sẽ là một trong những người trực tiếp thực hiện đường lối bản báo cáo đề ra, nếu họ không hiểu bản báo cáo thì họ sẽ không thể làm đúng và làm tốt được.

1. Ở phần I.1, bản báo cáo nói rằng « thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng ». Theo những gì tôi được dạy ở Việt Nam, khái niệm « kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa » nghĩa là nền kinh tế nhiều thành phần, nhưng kinh tế quốc doanh làm chủ đạo. Yếu tố « kinh tế quốc doanh làm chủ đạo » này không chỉ là lực cản cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta, mà còn tạo ra tham nhũng, lãng phí làm thâm thủng trầm trọng ngân sách quốc gia. Ở các nước tiên tiến, Nhà nước không có mấy nghìn công ty quốc doanh chủ đạo để cạnh tranh với các công ty tư nhân như ở Việt Nam. Hơn nữa, ở phần IV tuyên bố « các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật ». Nhưng nếu một thành phần kinh tế là chủ đạo thì « bình đẳng » ở đâu ? Câu sau mâu thuẫn với câu trước thì làm sao dân hiểu và tin được ?

Ở phần III.2 có ghi « chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ». Các nước trên thế giới chỉ có nền « kinh tế thị trường » chứ không hề có « kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa », vậy làm thế nào chúng ta hòa nhập được với thế giới khi chúng ta đang có một nền kinh tế chẳng giống ai ? Dẫn chứng cụ thể nhất là chúng ta nộp đơn xin vào WTO đã hơn 10 năm nhưng đến bây giờ vẫn chưa được chấp thuận.

2.Ở phần I.3, « độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia được giữ vững; chính trị - xã hội ổn định ». Vậy tại sao đã kí « Hiệp định biên giới » và « Hiệp định phân chia vùng vịnh Bắc bộ » đã rất lâu rồi mà đến giờ này vẫn chưa phổ biến bản đồ và văn kiện chính thức cho nhân dân, trong khi đã bắt đầu đi cắm mốc biên giới ? Đây không phải là bí mật quốc gia. Bất kì một con dân đất Việt nào cũng được quyền biết hình hài Tổ quốc. Dư luận cho rằng chúng ta bị thiệt thòi vì Đảng nhượng bộ cho Trung Quốc quá nhiều. Nếu Đảng và Nhà nước quang minh, chính đại, tất phải công bố bản đồ và văn kiện các hiệp định biên giới. Chỉ có như vậy, dân mới tin được câu « toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững ».

Tôi cũng không cho rằng chính trị – xã hội nước ta ổn định. Nếu sự thật là như vậy thì tại sao đất nước thống nhất đã hơn 30 năm rồi nhưng lúc nào Nhà nước cũng nơm nớp lo sợ bị lật đổ, còn Đảng thì sợ mất quyền lãnh đạo ? Điều này thể hiện ở ngay trong phần III.1, « Các thế lực thù địch âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta ». Theo những gì tôi được dạy ở Việt Nam thì « thế lực thù địch » ở đây là các nước tư bản mà đứng đầu là « đế quốc » Mỹ . Vậy các nước tư bản này được lợi gì từ việc thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam, trong khi Việt Nam là một trong những quốc gia nghèo nhất, tham nhũng nhất thế giới ? Chính họ lại là những người đang giúp chúng ta tiền bạc, kiến thức để xây dựng đất nước. Và chính Nhà nước cũng nói là « Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới ». Mặt khác, một đất nước chỉ thật sự ổn định khi mọi người dân đều có quyền lập hội, lập đảng, phát biểu, và báo chí được hoạt động tự do. Vậy mà đến giờ này Việt Nam vẫn chưa có một tờ báo tư nhân chứ đừng nói đến quyền lập hội, lập đảng. Mọi thông tin và các loại hình văn học nghệ thuật đều chịu sự kiểm soát của ban tư tưởng văn hóa trung ương trực thuộc một đảng duy nhất. Đàn áp, giam cầm những người bất đồng chính kiến, bịt mắt, bịt tai dân lại không cho dân thấy, dân nghe thì gọi là « ổn định » ? Tôi đề nghị phải nói cho rõ là « chính trị - xã hội nước ta chưa ổn định » và định nghĩa rõ ràng ai là « thế lực thù địch » ở đây, họ thù địch với riêng Đảng hay với Tổ quốc, với dân tộc ? Không thể có chuyện một văn bản quan trọng lại nói không đúng sự thật và lập lờ như vậy được !

3. Phần I.4, « việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp ». « Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa » là một khái niệm tôi hoàn toàn không hiểu. Không hiểu Đảng và Nhà nước lấy định nghĩa này ở đâu ra ? Chủ nghĩa Mác-Lênin có nói về khái niệm này không ? Ở các nước tiến bộ chỉ có khái niệm « Nhà nước pháp quyền », nghĩa là mọi công dân « sống và làm việc theo pháp luật ». Cần phải chỉ rõ cho dân biết hai khái niệm này khác nhau ra sao ? « Pháp quyền xã hội chủ nghĩa » tốt đẹp hơn « pháp quyền » ở chỗ nào ?

Phần I.5, « Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng được coi trọng thường xuyên và đạt được một số kết quả tích cực » ; phần XIII.1, « cán bộ, đảng viên và công chức phải thật sự là công bộc của nhân dân ». Điều này cho thấy Đảng và Nhà nước không thực tâm xây dựng một « Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa » ( nếu như mô hình này thật sự tồn tại). Vì một Nhà nước pháp quyền làm việc dựa trên luật pháp chứ không phải dựa trên tinh thần « phê bình và tự phê bình » của những người lãnh đạo. Cần phải hiểu là dân không cần cán bộ làm « công bộc » cho mình, cái dân cần trước hết là cán bộ làm đúng quyền hạn, đúng luật pháp. Điều này cũng cho thấy Đảng vẫn luôn « chủ quan, duy ý chí ».

4. Phần « khuyết điểm và yếu kém », mục 2, đánh giá « tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng ». Tôi cho rằng điều này đúng nhưng chưa đủ. Cần phải nói rõ là « tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí hết sức nghiêm trọng và là thảm họa của đất nước ». Đã qua bao đời Tổng bí thư, ai cũng nói tham nhũng là « quốc nạn ». Vậy mà bây giờ đã đẩy lùi được đâu ? Những vụ việc bị phát hiện càng ngày càng nghiêm trọng, chẳng hạn như vụ « con bạc triệu đô » Bùi Tiến Dũng, vụ thanh tra dầu khí… Tôi nói thẳng ra là mafia đang lũng đoạn Nhà nước. Nguồn tiền cán bộ tham nhũng là do dân ta lao động đóng thuế, do kiều bào gửi về để giúp thân nhân, do chính phủ nước ngoài cho vay. Quan chức không chỉ tham nhũng mà còn sử dụng ngân sách và các nguồn tài nguyên quốc gia một cách lãng phí và kém hiệu quả. Đảng và Nhà nước cũng chưa công khai tổng số nợ cho dân. Theo những gì tôi đọc được trên web site của bộ tài chính, các ngân hàng nhà nước nợ 23 nghìn tỷ đồng, nợ trong xây dựng cơ bản là 7 nghìn tỷ đồng. Các khoản nợ khác dân không hề được biết. Thanh niên, sinh viên, học sinh rất quan tâm đến vấn đề này vì không ai khác, chính thế hệ trẻ sẽ là những người phải trả nợ. Không chỉ một mà có thể phải nhiều thế hệ mới trả nổi. Yêu cầu Đảng phải công khai số tiền nợ ! Và bản báo cáo cũng phải nêu rõ Đảng chi tiêu khoản tiền đó như thế nào ! Ngoài ra, Đảng và Nhà nước phải nghiêm túc tuân thủ Hiến pháp, thực hiện tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do báo chí để nhân dân có thể sát cánh cùng Nhà nước trong việc kiểm tra và chống tham nhũng.

5. Trong phần nguyên nhân của « khuyết điểm và yếu kém », tôi cho rằng Đảng rất dũng cảm khi nhìn nhận đó là do lỗi của mình khi nói rằng « tư duy của Ðảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới », « chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt », « một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất và năng lực ». Như vậy, Đảng đã thừa nhận mình chậm đổi mới chứ không phải là dân chậm đổi mới. Tuy nhiên, tôi cho rằng Đảng vẫn chưa dám nhìn thẳng vào sự thật. Tất cả những nguyên nhân kể trên đều là hệ quả của một nguyên nhân duy nhất : chế độ độc đảng. Đây là sự vi phạm Hiến pháp một cách nghiêm trọng. Điều 3 Hiến pháp đã quy định « Nhà nước bảo đảm thực hiện xã hội công bằng, dân chủ », mà độc đảng, chỉ một thành phần được gọi là « vô sản » mới được quyền lãnh đạo đất nước thì công bằng xã hội ở chỗ nào ? Tư duy của bất kì người bình thường nào cũng thấy đây là một nghịch lý.

6. Phần II, « đánh giá khái quát 20 năm đổi mới », « hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Ðảng, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử ». Tôi hoàn toàn không đồng ý với nhận định trên vì những nguyên nhân sau.

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, xếp hạng 108/152 nước .

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới, xếp hạng 94/143 nước .

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước mất dân chủ nhất thế giới, xếp hạng 138/143 nướcii.

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước có chỉ số tự do báo chí tồi tệ nhất thế giới, xếp hạng 135/143 nước.

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước có chỉ số kinh tế tự do kém nhất thế giới, xếp hạng 137/161 nước .

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước có chỉ số phát triển con người kém nhất thế giới, xếp hạng 112/177 nước .

•Việt Nam vẫn còn là một trong những nước có khả năng cạnh tranh kém nhất thế giới, xếp hạng 77/104 nướcv.

Chẳng lẽ những điều trên lại được gọi là « có ý nghĩa lịch sử » ? Nêu lên những điều này không phải để phủ nhận những thành tựu chúng ta đã đạt được nhưng để giúp Đảng và Nhà nước nhìn thẳng vào sự thật. Tụt hậu đã là sự thật chứ không còn là nguy cơ nữa. Đừng nhìn vào tỉ lệ tăng trưởng hằng năm 7-8% mà cho đó là « to lớn », ngay cả với đà tăng trưởng này thì chúng ta cũng không thể bắt kịp Thái Lan, Mã Lai, Indonesia chứ đừng mong là « sánh vai với các cường quốc năm châu ». Tôi đề nghị thay đoạn trên bằng câu « công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được một số thành tựu nhưng rất hạn chế, và tụt hậu đã là sự thật ». Chỉ có hiểu rõ, hiểu đúng sự thực vấn đề thì chúng ta mới có thể giải quyết được vấn đề.

7. Trong phần II cũng có ghi « xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ». Đây lại là một khái niệm kì lạ mà tôi không hiểu được. Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, tại Gettysburg, năm 1863, đã đưa ra định nghĩa về chính phủ dân chủ, đó là một chính phủ « của dân, do dân, vì dân ». Như vậy, nền « dân chủ xã hội chủ nghĩa » mà Đảng và Nhà nước muốn xây dựng khác với dân chủ ở các nước tiến bộ như thế nào khi cả hai đều nói « của dân, do dân, vì dân ». Dân chủ nghĩa là phải có bầu cử đa đảng, tự do, công bằng để bầu ra người lãnh đạo đất nước. Có phải ở Việt Nam, dân không được bầu ra người lãnh đạo cao nhất nước như Tổng bí thư nên mới cần phải thêm cụm từ « xã hội chủ nghĩa » ? Tôi đề nghị phải giải thích rõ ràng và thuyết phục cụm từ « dân chủ xã hội chủ nghĩa » trong bản báo cáo.

8. Phần X, « kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại », đến đây thì tôi cảm thấy rằng mình không còn hiểu tiếng Việt nữa. Tôi không đủ khả năng để hiểu được « sức mạnh thời đại » là sức mạnh gì ? « Sức mạnh dân tộc » kết hợp với nó sẽ ra cái gì ? Đây là một bản báo cáo chính trị quan trọng chứ không phải là bài tập làm văn của các em cấp I. Yêu cầu Đảng bỏ câu này, nếu muốn giữ thì phải giải thích thật rõ ràng cụm từ « sức mạnh thời đại ».

9. Cũng trong phần X, Đảng muốn « lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng và Nhà nước ». Điều này hoàn toàn trái với nguyên tắc của dân chủ là lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, cụ thể hơn là người đứng đầu Nhà nước được nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử. Lực lượng vũ trang không được phép trung thành hoặc làm việc cho bất kì Đảng phái chính trị nào. Chẳng lẽ khi Đảng yêu cầu quân đội và công an đàn áp nhân dân thì họ phải tuân theo ? Tôi đề nghị bỏ ngay từ « Đảng » ra khỏi câu trên và thay bằng từ « nhân dân ».

10. Phần XII ghi rằng « Ðại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Ðảng ». Khái niệm « đại đoàn kết » đòi hỏi các thành phần xã hội phải bình đẳng và được tôn trọng như nhau. Nếu như « đại đoàn kết » phải là « dưới sự lãnh đạo của Đảng », thì chẳng lẽ những người không đồng ý với các chính sách của Đảng lại không được đứng trong « toàn dân tộc » ? Độc đảng chính là hình thức chia rẽ đại đoàn kết dân tộc rõ ràng nhất. Tôi đề nghị viết lại phần này và bỏ cụm từ « dưới sự lãnh đạo của Đảng ».

11. Cũng trong phần XII, báo cáo có ghi « thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên ». Thế nhưng Đảng đã sai lầm về « chính trị », « đạo đức cách mạng » tha hóa, Đảng viên chỉ còn « lý tưởng » kiếm tiền bằng tham nhũng. Chính Đảng không làm gương được thì làm sao Đảng có thể dạy dỗ thanh niên ? Tôi đề nghị phải bỏ câu này.

12. Phần kết luận có ghi « thực hiện bằng được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", sánh vai cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại ». Tôi đồng ý với Đảng ở điểm này. Tuy nhiên, theo tôi, để thực hiện tất cả những điều trên thì trước hết, chúng ta cần phải có dân chủ. Chỉ khi có dân chủ (chứ không phải « dân chủ xã hội chủ nghĩa »), chúng ta mới có thể thực hiện những điều còn lại, vì dân chủ sẽ giải phóng mọi tiềm năng của dân tộc. Vậy trong giai đoạn hiện tại, chỉ cần ghi mục tiêu « xã hội dân chủ, giàu mạnh » là đủ rồi. Để « sánh vai cùng các nước trên thế giới », Đảng cần xem xét lại toàn bộ hệ thống chính trị và chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ có một vài nước trên thế giới theo chủ nghĩa cộng sản, tất cả các nước còn lại không ai chọn con đường này, như vậy làm sao sánh vai với họ được ? Hay Đảng chỉ muốn sánh vai với mấy nước chủ nghĩa xã hội còn sót lại đó thôi ? « Thời đại » với « nhịp bước khẩn trương » của nó đã từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin được hơn 15 năm, cụ thể là ở Nga và các nước Đông Âu, vậy tại sao Đảng chưa nhận ra được điều này ?

Còn rất nhiều điều trăn trở nhưng tôi chỉ ghi ra những gì tôi bức xúc nhất trong bản dự thảo báo cáo chính trị đại hội X. Để tóm tắt, tôi đề nghị những điều sau để Đảng xem xét và thực hiện :

I. Thế nào là « con đường xã hội chủ nghĩa » ? Giải thích rõ ràng các cụm từ « kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa », « Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa » và « dân chủ xã hội chủ nghĩa » cho nhân dân được hiểu.

II. Công khai hóa số tiền nợ của Nhà nước và tổng ngân sách quốc gia hàng năm.

III. Công khai chi tiết các hiệp định biên giới và phổ biến rộng rãi.

IV. Công khai và lập tòa án xử các vụ án lớn như vụ Tổng cục 2 - T4, vụ Sáu Sứ… để lòng dân được yên.

V. Viết lại toàn bộ bản báo cáo, không sử dụng những từ ngữ sáo rỗng, những khẩu hiệu kêu to. Nêu ra vấn đề nào phải ghi rõ nguyên nhân cụ thể cùng với những biện pháp sửa đổi hết sức rõ ràng, mang tính khả thi.

VI. Sau cùng và quan trọng hơn cả, Đảng phải chấm dứt ngay lập tức việc vi phạm pháp luật : độc quyền chính trị, tham nhũng, bắt người lấy của trái phép. Yêu cầu Đảng phải nghiêm túc tuân thủ Hiến pháp, thực hiện xã hội công bằng, dân chủ bằng cách để cho nhân dân được quyền làm báo, lập hội và long trọng tổ chức bầu cử tự do, đa đảng, công bằng, có quốc tế giám sát vào năm 2007. Nếu Đảng không làm được như vậy thì đại hội Đảng X không có ý nghĩa gì cả.


Ngày 28 tháng 02 năm 2006

Nguyễn Tiến Trung
tgnn169@hotmail.fr

Nguồn trích dẫn

Friday, April 21, 2006

LOI KEU GOI VIET NAM DOAN KET UNG HO NGHI QUYET CHAU AU 1481

LOI KEU GOI VIET NAM DOAN KET

UNG HO NGHI QUYET CHAU AU 1481

1 Nhan dan Viet Nam la luc luong hang dau xung phong tien cong vao mat tran tieu diet toi ac, van dong keu goi toan dan Viet Nam ung ho va bay to long tri an den Nghi quyet Chau Au 1481 mot cach toan dien, tich cuc de dua che do toi pham Cong San Viet Nam ra toa an Quoc te.

2 Nhan dan Viet Nam phai vach tran bo mat that gian manh, hiem doc, tan bao, phi nhan cua CSVN truoc Nghi Vien chau Au va nhan dan the gioi biet ro ve cac cuoc ruong bo thu tieu nguoi Viet duoi su chi dao cua Ho chi Minh va dan em, biet ro ve ke hoach chon song tap the, dau to sat hai dong bao Viet Nam cua be lu CSVN tai Bac Viet, biet ro CS Bac Viet theo lenh cua Nga-Tau ma sat hai chinh dong bao cua minh qua cuoc chien tranh xam lang mien Nam VN, xam lan Cam Bot phan boi dan toc, tham sat tu binh, tu si, nguoi doi lap trong cac trai tu...tat ca toi ac can phai lap ho so day du chung co, so lieu lich su voi con so da duoc uoc tinh gan 10 trieu nguoi da chet.

3 Nhan dan Viet Nam phai liet ke, dan chung, ket an nhung thu doan hiem doc cua duong loi cai tri va toi ac man ro cua CSVN doi voi nhan dan Viet Nam trong qua khu cung nhu hien tai cho Nghi Vien Chau Au biet ro, nham xet xu cac toi pham cua mot tap doan tay sai Cong San Quoc Te gom nhung su buc hai tinh than, dan ap cuoc song, day ai, tra tan, khung bo, tuoc doat quyen tu do, cuop tai san tu nhan va cua cong, danh dap nhung nan nhan vo toi, gay tham hoa dat nuoc dieu linh cung cuc, pha vo nen dao duc luan ly xa hoi VN ve moi mat.

4 Nhan dan Viet Nam phai van dong cac to chuc cua nguoi Viet o khap moi noi to chuc truy dieu, ton vinh, phuc hoi danh du va tuong niem den cac nan nhan Cong San da bo minh, chet oan, bi tra tan buc tu vi da bat dong quan diem, bi phan biet, vu khong, bi am hai...hoac vi dau tranh cho cong bang le phai, vi yeu chuong tu do, cong ly ma bi CSVN sat hai.

5 Nhan dan Viet Nam phai quang ba tai lieu ve thu doan va toi ac Cong san Viet Nam den khap nam Chau, hau mong moi su dong gop ung ho tham gia cua nhieu dan toc va nhieu to chuc quoc te, VNDK phai co gang thu thap, tim kiem them tai lieu, ho so, chung cu, hinh anh, tang vat cua cac toi pham diet chung, toi ac chong nhan loai cua Dang CSVN, phai lap ho so toi ac CSVN de dua vao sach vo lich su The gioi va Viet Nam, dua vao cac nganh giao duc, truong hoc, van kho, hoc vien, thu vien... de con chau Viet Nam ngan doi sau nhac nho.

6 Nhan dan Viet Nam phai tim moi bien phap de tao them suc manh doan ket cho moi tang lop nhan dan Viet Nam, phai ung ho va cung chung suc voi moi to chuc va ca nhan trong va ngoai nuoc dang tranh dau doi CSVN tra lai nhan quyen, dan chu, tu do ton giao cho dan, doi lai tai san, quyen lam nguoi, va doi tat ca quyen tu do cua mot cong dan trong mot nuoc van minh phai duoc ton trong.

7 Nhan dan Viet Nam phai ung ho moi to chuc dang keu goi toan dan Viet Nam dap do gong cum Cong San, mot che do chi biet gai bay, gay han thu-chia re, ham doa-dan ap, tuyen truyen-lua bip, dau da-to cao-theo doi, kim kep sat mau, pha hoai dao duc truyen thong dan toc..mot che do chi biet dung thu doan va sach luoc lua gat: ngu dan, ban cung hoa, no dich hoa, cuong doat tai san, cuop cong lao dong.

8 Nhan dan Viet Nam phai tim bien phap thuc tinh can bo Cong San, keu goi ho tro ve voi dong bao voi dan toc, lanh xa bon ban nuoc hai dan. VNDK khang dinh quan doi, cong an, can bo cong nhan vien chuc... la con cua nhan dan cho nen phai bao ve dan, phai bao ve dat nuoc va cong ly, khong bao ve bat cu mot phe nhom, mot dang nao de quay sung ve phia cha me, ong ba cua chinh minh.

9 Nhan dan Viet Nam phai tim giai phap nhanh chong nhat, hop ly nhat de giai the che do Cong san Viet Nam cang som cang tot, keu goi 80 trieu nguoi Viet dung day triet pha cac thu doan Cong San, dua bon dau so ra truoc toa an cong ly, quyet khong de mot che do doc tai phi nhan cung ton tai voi moi the che nhan dao, phai xoa sach tuyet doi nhung hinh anh ma quai, van hoa thu han cua Cong San ra khoi tam tu, tiem thuc chung ta, trong sinh hoat xa hoi de co the chuyen hoa dat nuoc sang che do dan chu-tu do, binh dang-bac ai, thanh binh-cuong thinh.

10 Nhan dan Viet Nam phai cung voi nguoi Viet khap moi noi xay dung lai que huong Viet Nam dieu tan thanh mot nuoc dan chu, tu do, tu cuong, cong bang, thinh vuong, thoat khoi canh ngheo doi, lac hau, kho dau trien mien gan 1 the ki duoi nan dich CS.

MOT NHOM SINH VIEN VIET NAM YEU NUOC

Cộng Sản VN hốt hoảng lên tiếng chống đối Nghị Quyết 1481

VIệT GIAN CS HÀ NộI : PHÁT ĐIÊN KHI LIÊN ÂU LÊN ÁN CộNG SảN Cả THế GIớI

Liên tiếp trong hai ngày 6 và 7 Tháng Hai 2006, các tờ Quân Ðội Nhân Dân, Lao Ðộng, Thông Tấn Xã Việt Nam, Ðài Tiếng Nói Việt Nam v.v... của đảng Cộng Sản hốt hoảng lên tiếng chống đối Nghị Quyết 1481 của Hội Ðồng Châu Âu tố cáo những tội ác của các chế độ cộng sản trong thế giới. Sớm hơn nữa là tờ Nhân Dân lên tiếng tố cáo nghị quyết trong số ra ngày 27 Tháng Giêng 2006.

Ðài Tiếng Nói Việt Nam của Hà Nội công nhận sự kiện không còn chối cãi là “Chủ nghĩa Xã hội (tức cộng sản) đang lâm vào bước thoái trào, trở nên lỗi thời”. Nhưng vẫn cố tín gào kêu: “Nhân loại vẫn rất nhớ và biết ơn Liên Xô”. Nhân loại nào, thì Ðài không xác định hay trưng bằng cớ. Hai tờ Quân đội Nhân dân và Lao Ðộng thì tả oán việc “sự bất đồng sâu sắc giữa hai quốc gia trụ cột của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa là Liên Xô và Trung quốc” đầu những năm 60, rồi “cú sốc lịch sử nặng nề nhất của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa những năm cuối thế kỷ 20” khi bị “Goóc-ba-chốp phản bội”, làm cho các chế độ Cộng sản ra nông nỗi ngày nay. Tuy nhiên, báo chí cộng sản vẫn nhắm mắt đánh đồng học thuyết Marx với các chế độ Cộng sản gian ác theo lối tam đoạn luận rẻ tiền: Triết gia Marx vẫn còn được nghiên cứu và dạy tại các đại học Âu Mỹ; Marx là ông tổ (?)của các chế độ Cộng sản; cho nên “lý tưởng Cộng sản sẽ thắp sáng thế kỷ 21”! Rồi các ngài nhà báo ăn lương chế độ này lướt băng qua mọi thảm sát, khủng bố trắng thực hiện dưới các tay đồ tể Staline, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh, Pol Pot, v.v... để hết mực ca tụng những “thành tựu” kinh tế tại Trung quốc và Việt Nam Xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Thành tựu kinh tế của Việt Nam Cộng sản được báo Quân đội Nhân dân hôm 7.2.2006 ghi công: “Từ một đất nước kiệt quệ sau chiến tranh nay trở thành một trong những quốc gia đổi mới, phát triển năng động hàng đầu khu vực và Châu Á”. Còn Lao Ðộng số ra ngày 6.2.2006, thì “Dù muốn dù không, các nhà quan sát chính trị trên thế giới buộc phải công nhận, ở Châu Á, không có xã hội nào an ninh và ổn định hơn Trung quốc và Việt Nam”.

Sự thật có phải vậy không? Bản báo cáo hoạt động kinh doanh 2006 của Ngân hàng Thế giới (WB) kết hợp với Công ty Tài chính quốc tế (IFC) công bố hôm 14.9.2005, thì Việt Nam được xếp hạng thứ 99 trong số 155 quốc gia được khảo sát. Theo bản báo cáo này, Singapore đứng hạng 2, Thái Lan đứng hạng 20, Mã Lai đứng hạng 21... Còn xếp hạng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư, thì Việt Nam xếp hạng thứ 143. Trong 59 nền kinh tế có lợi tức thấp (Low income economies), đa số thuộc các nước Châu Phi, thì Việt Nam đứng vào hàng áp chót trong 59 quốc gia này. Theo bản thông kê của Tổ chức minh bạch quốc tế thì Việt Nam đứng hàng thứ 107 trên 158 quốc gia tham những nhất thế giới.

Với số liệu quốc tế trên đây, những câu viết sai sự thật của Quân đội Nhân dân và Lao động có nghĩa gì? Khi nền báo chí Xã hội Chủ nghĩa có thể dối gạt người dân trong nước trước những sự kiện đang xẩy trước mắt, và được các cơ quan quốc tế theo dõi và làm chứng, thì còn giá trị gì nữa những khẳng định về sự “tốt lành trong mộng ảo” của chế độ khủng bố mệnh danh là Xã hội Chủ nghĩa thực hiện tại Việt Nam từ 1945 đến nay?

Các nhà lãnh đạo Cộng sản Hà Nội và báo chí, truyền thông của họ đang phát điên và quay cuồng như đứng trên đống lửa trước bản án lịch sử mà Hội đồng Châu Âu vừa phán quyết thông qua Nghị quyết 1481 hôm 25.2.2006 kết án những tội ác của các chế độ Cộng sản độc tài toàn trị trong thế giới. Vì lương tri nhân loại vừa điểm trúng yếu huyệt sự bạo ác trên trần thế của chủ nghĩa Cộng sản. Tìm cách chống chế cho các chế độ bạo ác cộng sản, tờ Quân đội Nhân dân đưa ra một số liệu thống kê: “Thăm dò dư luận gần đây cho thấy, số người Nga ủng hộ khôi phục Liên Xô đã tăng từ 28% năm 2001 lên 32% năm 2005”. Ðọc mà thấy tội nghiệp cho kẻ thất thế trên dốc lăn xuống vực thẳm: trong vòng 4 năm mà những người sinh ra, lớn lên, tụng đọc kinh điển Mác Lênin trong vòng 73 năm, ước vọng trở về với “những ngày mai hết ca hát” chỉ tăng được 4%! Mà tổng thể của những người này cũng không quá một phần tư nhân dân Nga! Báo chí cộng sản trong nước còn bất lương đổ tội Nghị quyết cho một cá nhân là Dân biểu Thụy điển Goran Lindblad, người viết bản báo cáo các tội ác Cộng sản và đề xuất Hội đồng Châu Âu phải lên tiếng.

Khi muốn bênh vực, thì những người Cộng sản lấy thiểu số làm đa số, như cường điệu về một phần tư dân Nga muốn trở về sống với Staline, nhưng báo Quân đội Nhân dân lại giả ngơ trước ba phần tư dân chúng Nga chán Liên Xô cũ như hủi. Khi muốn kết án, thì dù cả Hội đồng Châu Âu bỏ phiếu lên án tội ác Cộng sản với đa số áp đảo, người Cộng sản lại táng tận lương tâm quy tội vào một cá nhân xuất phát.

Các sự kiện và luận điểm trên cho thấy Ðảng Cộng sản Việt Nam và cái Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa vẫn chưa hiểu dân chủ là gì, tranh luận ý kiến là gì, bỏ phiếu thông qua một Nghị quyết thực hiện ra làm sao trong các xã hội dân chủ. Gần một thế kỷ, suy nghĩ, học tập, hành động theo phương thức chuyên chính, độc tài, chủ nghĩa tập thể trại lính không có con người ở Hà Nội đã tiêu diệt con người cá thể và ý kiến riêng biệt của con người ấy.

Hội đồng Châu Âu là tổ chức chính trị lâu đời nhất của Âu châu, ra đời năm 1949. Trụ sở đặt tại thành phố Strasbourg miền Ðông bắc nước Pháp, cũng là nơi Liên hiệp Châu Âu và Quốc hội Châu Âu đặt trụ sở thứ hai sau trụ sở thứ nhất ở Brussels, Vương quốc Bỉ. Khác với Liên hiệp Châu Âu gồm 25 quốc gia thành viên Tây, Ðông và Bắc Âu, Hội đồng Châu Âu có 46 quốc gia thành viên, trong số này có 21 quốc gia Trung và Ðông Âu. Mục tiêu của Hội đồng Châu Âu là kết hợp chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên nhằm mục đích bảo vệ an ninh dân chủ, nhân quyền và Nhà nước Pháp quyền. Kể từ năm 1989, nghĩa vụ đặc biệt của Hội đồng Châu Âu là làm tiền vệ cho nhân quyền tại các quốc gia dân chủ hậu cộng sản ở Trung và Ðông Âu, giúp đỡ các quốc gia này cải cách chính trị song song với cải cách kinh tế, và trao truyền kiến thức trên các lĩnh vực nhân quyền, dân chủ cơ sở, giáo dục, văn hóa, môi trường.

Nghị quyết số 1481 lên án những tội ác chống nhân loại của các chế độ Cộng sản trên toàn thế giới được thông qua ngày 25.1.2006, với đa số áp đảo 99 phiếu thuận, 42 phiếu chống. Ðặc biệt điều 9 của Nghị quyết xác định rằng:

“Các chế độ toàn trị cộng sản vẫn còn hoạt động tại một số quốc gia trên thế giới và vẫn tiếp tục gây tội ác. Quyền lợi quốc gia không thể là cái cớ nhằm phản bác những phê phán thích đáng các chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay. Hội đồng Châu Âu cực lực lên án tất cả những vi phạm nhân quyền”.

Các tội ác này đến từ đâu? Ðiều 3 của Nghị quyết ghi nhận:

“Nhân danh chủ trương đấu tranh giai cấp và nguyên tắc chuyên chính vô sản mà các tội ác được biện minh. Sự giải thích hai nguyên tắc này đã hợp thức hóa việc “thủ tiêu” những người bị cho là có hại cho sự xây dựng một xã hội mới, và do đó, bị xem là kẻ thù của các chế độ độc tài toàn trị cộng sản”.

Ðiều 5 còn xác định: “Sự sụp đổ của những chế độ độc tài toàn trị cộng sản tại Trung và Ðông Âu không được quốc tế điều tra theo dõi các tội ác gây ra. Hơn nữa, tác giả những tội ác nầy chưa hề bị đưa ra xét xử trước cộng đồng quốc tế, như trường hợp những tội ác khủng khiếp do Ðức Quốc xã gây ra trước đây”.

Trong thời gian hoạt động tại Strasbourg, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Cơ sở Quê Mẹ đã gặp gỡ các vị Dân biểu và ghi nhận những phát biểu sau đây của các Dân biểu Châu Âu ủng hộ Nghị quyết 1481, mà đa số là các Dân biểu thuộc Trung và Ðông Âu, là các quốc gia kinh qua một thời gian dài dưới chế độ độc tài toàn trị Cộng sản. Họ là nhân chứng sống cho những bạo tàn và thảm sát nhân loại không thể nào tha thứ, không thể nào còn giữ im lặng một cách bất lương và đớn hèn. Các lời phát biểu dưới đây đã được Ðài Á châu Tự do phát về Việt Nam trong 2 chương trình buổi sáng và buổi tối hôm 8.2.2006.

Trong cuộc bỏ phiếu thông qua, một số đảng khuynh tả Châu Âu đã chống đối Nghị quyết, dù họ đồng tình tố cáo các tội ác cộng sản trong quá khứ, nhưng lại ngại rằng sự tố cáo ấy trở thành cuộc chống đối ý thức hệ Mác-xít. Các cuộc thảo luận trong năm 2004 chỉ xoáy quanh sự lo ngại này mà thôi, nên một số đảng tả khuynh đưa những đề nghị sửa đổi, bổ sung văn bản (amendment) chứ không hề chống đối sự lên án.

Các vị Dân biểu Trung và Ðông Âu đã bác bỏ luận điểm lo sợ trên đây, khi chính họ là những cựu đảng viên Cộng sản. Sau đây là ý kiến của Bà Catherine Saks, Dân biểu nước Estonia:

“Nếu Hội đồng Châu Âu coi trọng pháp quyền, dân chủ và nhân quyền, thì chúng ta phải áp dụng những tiêu chuẩn ấy để đánh giá quá khứ của chúng ta. Chúng ta không nhắc chuyện ở thời đại xa cách chúng ta, mà là một lịch sử mà đa số trong chúng ta từng chứng kiến. Vì vậy mà chúng ta cần biết rõ sự thật. Nhưng bất hạnh thay, trong thực tế có số người không chịu nói lên sự thực, do bản thân họ từng tham dự, hoặc do họ từng đóng những vai trò trong các sự kiện đã qua ấy.

“Tôi lên tiếng hậu thuẫn cho việc tố cáo những tội ác của chế độ Cộng sản toàn trị, mặc dù trong thực tế tôi là cựu đảng viên Cộng sản Estonia. Vì sao tôi vào đảng là điều không quan trọng, ngày nay tôi chẳng hãnh diện gì về điều này, là điều đã làm thương tổn cha mẹ tôi vì cha mẹ tôi bị thống khổ dưới chế độ ấy. Tôi hy vọng rằng những nỗ lực nhằm chấm dứt chế độ ấy để xây dựng dân chủ tại Estonia đang sửa chữa những tổn hại mà tôi đã gây ra khi tham gia đảng Cộng sản.

“Bản Nghị quyết hôm nay không nhằm kết án riêng tôi vì tôi không hề phạm các tội ác ấy. Những kẻ nào gây ra tội ác chống nhân loại sẽ phải đưa ra xét xử trước tòa án, chứ không phải tại Hội đồng Châu Âu. Thật là một quyết định tối hậu cho xã hội dân chủ hiện đại khi vẽ ra một lằn ranh minh bạch giữa những tội ác vi phạm với những giá trị mà chúng ta trân quý. Ðây là điều tối ư quan trọng cho tương lai chúng ta. Làm được như vậy, tôi hy vọng rằng, các con cháu của tôi sẽ không bao giờ kinh qua những cảnh thảm khốc mà cha mẹ tôi đã phải chịu đựng”.

Ông Mátyás Eởsi, Dân biểu Hung Gia Lợi có cùng một quan điểm khi phát biểu:

“Sáng nay có một số người nhỏ biểu tình trước trụ sở Hội đồng Châu Âu, và chúng tôi đã nhận được vài lá thư của các nhóm vận động nói rằng chúng tôi đã sai lầm khi tố cáo những tội ác của các chế độ Cộng sản. Tôi muốn nói với đảng tả khuynh Châu Âu Thống nhất và những ai đã viết các thư trên, rằng họ hoàn toàn tự do để đến đây, tự do phát biểu ý kiến của họ. Hồi tôi còn trẻ, hồi tóc tôi còn nhiều và không bạc như bây giờ, tôi còn để râu nữa, thời ấy chúng tôi muốn viết kiến nghị thư hay muốn biểu tình ở Hung Gia Lợi, chúng tôi liền bị đánh đập và bắt bỏ tù. Ðó là điều khác biệt kinh khủng với bây giờ... Tôi nghĩ rằng, chúng ta cần rút tỉa bài học từ thái độ trí thức của một Châu Âu tả khuynh. Hãy nghĩ tới những người như Jean-Paul Sartre, ông ta thú nhận trước khi chết rằng: “Tôi đã biết rất rõ về các trại tập trung Gulags, nhưng tôi không muốn vạch trần ra, vì tôi không muốn làm mất tinh thần của giai cấp công nhân đang tin tưởng vào một ngày mai ca hát”... Bài học mà chúng ta rút tỉa từ một thái độ như thế, là phải biết rõ sự thật, xem đấy như tiêu chuẩn tối hậu. Ở đây chúng ta không đề cập tới vấn đề ý tưởng, mà nhắm vào những tội ác khủng khiếp... Chúng ta nói đến trường hợp Pol Pot, Mao Trạch Ðông, Stalin, và những gì bọn họ đổ lên đầu nhân dân họ. Ðiều cơ bản mà tôi sợ nhất, và tôi chẳng hiểu vì sao vẫn hiện hữu những người tả khuynh không chịu chấp nhận rằng chúng ta đang nhắc nhở tới những tội ác khủng khiếp, chứ không đề cập vấn đề ý thức hệ”.

Ông Németh, Dân biểu Hung Gia Lợi kể lại một kinh nghiệm đau thương tại nước ông:

“Như quý vị đã biết, năm nay chúng tôi kỷ niệm 50 năm Cách mạng Hung Gia Lợi đấu tranh cho tự do. Xin cho phép tôi nhắc lại câu chuyện của một người đấu tranh cho tự do. Ðó là công nhân Peter Mansfeld, năm ấy mới có 16 tuổi. Sau khi chiến xa Liên Xô tiến chiếm thủ đô Budapest năm 1956, em bị bắt bỏ tù, rồi sống trong tình trạng tạm giam suốt 2 năm cho đến ngày sinh nhật 18 tuổi, là ngày em đủ tuổi lãnh án tử hình chiếu theo “luật pháp Xã hội chủ nghĩa”. Em bị hành quyết năm 1958. Nếu còn sống, năm nay người thiếu niên ấy được 66 tuổi.

“Trên hết mọi sự, hôm nay chúng tôi biểu dương sự ủng hộ và công nhận các nạn nhân của chế độ Cộng sản, còn sống hay đã chết. 60 triệu người đã chết oan dưới các thể chế Cộng sản trong toàn thế giới. Quyết định hôm nay vô hình trung xác nhận đã có hàng triệu Peter Mansfelds”.

Vì sao vẫn còn có số người chưa chịu lên tiếng tố cáo tội ác cộng sản? Bà Mikhailova, Dân biểu Bulgaria, phân tích:

“Hai tháng trước đây, tôi được mời làm thuyết trình viên cho một Hội nghị về nhân quyền tại Bắc Hàn tổ chức ở Hán Thành. Những gì mà tôi được nghe ở đây, hay đọc qua các tài liệu, thật kinh khủng. Ai là kẻ bình thường khó tin được các điều ấy. Nhưng chính những điều ấy lại nhắc nhở tôi rằng, chế độ cộng sản độc ác tới cỡ nào, rằng nếu công luận thế giới không chịu lên tiếng tố cáo, thì những tên độc tài ở thế kỷ XXI sẽ tha hồ thẳng tay đàn áp, vì chúng biết rằng chẳng có luật lệ nào dám động tới chúng.

“Có số người cho rằng cuộc thảo luận về tội ác các chế độ Cộng sản còn sớm quá. Nhưng trái lại, tôi cho rằng đã chậm trễ lắm rồi việc đánh giá những tội ác của các chế độ Cộng sản. Biết bao là nạn nhân đã chết, đã buồn thảm rời bỏ thế giới phi công lý này. Chẳng nghi ngờ gì nữa sự kiện các chế độ Cộng sản đã giết hại hằng triệu người và biến tướng cả thế hệ. Thế mà có người lại vô tình nói trổng rằng đó là lịch sử, và lịch sử chẳng bao giờ lập lại đâu. Tôi không đồng ý thứ ý kiến đó. Vì những chế độ ấy vẫn hiện hữu tại các quốc gia như Belarus, Cuba, Trung quốc, Bắc Triều tiên, Việt Nam, là những nơi mà sự độc ác được sử dụng chống lại nhân dân, vì khối nhân dân này đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền”.

Ông Goran Lindblad, Dân biểu Thụy điển, Báo cáo viên dẫn nhập Nghị quyết nói lên lý do vì sao không thể trì hoãn việc tố cáo các tội ác cộng sản:

“Bản báo cáo hôm nay vốn đã được chờ đợi từ lâu - thực sự là quá lâu. Ðã đến lúc Hội đồng Châu Âu lên tiếng tố cáo dứt khoát những tội ác của các chế độ Cộng sản. Thứ nhất, là vì vấn đề nhận thức chung - Hội đồng Châu Âu phải tố cáo những tội ác do các chế độ Cộng sản vi phạm không trừ trường hợp nào. Thứ hai, bao lâu những nạn nhân của các chế độ Cộng sản còn sống, hoặc thân nhân họ còn sống sót, chúng ta phải phục hồi tinh thần cho các nạn nhân ấy. Và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, là hiện nay đang còn nhiều chế độ Cộng sản hiện hữu trên thế giới. Chúng ta phải nhớ lấy điều ấy, và chúng ta cần thảo luận tới vấn đề này để tìm giải pháp bảo đảm sao cho những tội ác như thế không còn tái diễn, và Âu châu không phạm những sai lầm như đã phạm trong quá khứ.

“Các chế độ Cộng sản có thể định nghĩa qua một số đặc trưng sai khác. Nhưng tựu trung, bao gồm chế độc độc đảng, mọi người chỉ được quyền nghĩ theo như Ðảng nghĩ, phải chấp nhận một ý thức hệ duy nhất, và tất cả quyền lực tập trung vào tay một nhóm lãnh đạo thiểu số. Giới lãnh đạo này thụ hưởng thỏa thuê trong xã hội, bất cần đến đời sống của tuyệt đại đa số nhân dân. Con người chả ra gì. Không có quyền lập hội. Ðể kiểm soát, các chế độ này có guồng máy công an khổng lồ, họ kiểm soát toàn bộ truyền thông, báo chí, và quốc hữu hóa kinh tế. Trung quốc là một ngoại lệ, trong nghĩa Trung hoa Cộng sản kết hợp những gì xấu xa nhất trong chủ nghĩa Tư bản với những chi xấu xa nhất trong chủ nghĩa Cộng sản. Tại Trung quốc không có tự do ngôn luận, không có luật pháp và quy tắc bảo vệ cá nhân, tất cả đó cộng với thứ chủ nghĩa tư bản tùy tiện và man rợ. Tôi nghĩ rằng đời sống tại Trung quốc nào khác chi địa ngục trên trần thế.

“Chúng ta có thể nhìn thấy những chi đang xẩy ra tại Trung hoa Cộng sản, là nơi mà những ai bất đồng chính kiến đều bị đàn áp. Pháp luân công và các tôn giáo bị ngược đãi tại Trung quốc. Sự đàn áp này làm nẩy sinh một phong trào ly khai và đối lập lớn. Ðây là điều tốt. Tôi dám cá với quý vị 100 Euros, rằng đảng Cộng sản Tàu sẽ đổ trong vòng 5 năm tới. Hiện nay đã có nhiều nhà ngoại giao đào thoát, nhiều người bỏ đảng bên Tàu. Những sự kiện ấy từng xẩy ra trước khi bức tường sắt Liên Xô sụp đổ.

“Vì vậy, tôi vững tin rằng, nhờ cuộc thảo luận hôm nay, với việc phục hồi tinh thần cho những nạn nhân cộng sản, Hội đồng Châu Âu dứt khoát đứng lên bảo vệ cho những ai bị thống khổ dưới các chế độ độc tài khủng khiếp này”.

Lời phát biểu sau đây của Ông Ivan Ivanov, Dân biểu Bulgaria, nêu một sự kiện quan trọng là tính kỳ thị chủng tộc, kiểu Ðức quốc xã độc tôn giống dân Aryen, và chống tôn giáo của đảng Cộng sản Bulgaria khi ra lệnh thay tên đổi họ 800.000 người Bảo gia lợi gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Phát biểu của ông Ivan Ivanov là tiếng nói đồng nhất của hầu hết các quốc gia Trung và Ðông Âu, là những quốc gia vừa thoát ly chế độ độc tài toàn trị Cộng sản và nay đang trên đà xây dựng dân chủ đa nguyên:

“Lên tiếng kết án những tội ác của các chế độ Cộng sản là cần thiết vì những lý do cơ bản. Trước hết, tính về số lượng và sự tàn nhẫn, những tội ác cộng sản chẳng khác gì những tội ác của bọn Ðức quốc xã. Thứ hai, là thông qua các tội ác mà các chế độ nầy được thiết lập nhằm tước đoạt mọi quyền cơ bản và làm trì hoãn nửa thế kỷ phát triển trong các quốc gia ấy. Thứ ba, là bổn phận tinh thần của chúng ta chỉ thành tựu đối với các nạn nhân của sự khủng bố cộng sản khi chúng ta chịu lên tiếng kết án.

“Hội đồng Châu Âu được thiết lập để bảo vệ nhân quyền và tố cáo những ai vi phạm nhân quyền. Thông qua quyết nghị tố cáo các tội ác cộng sản là chúng ta đang bảo vệ tinh thần và các nguyên tắc của Hội đồng Châu Âu.

“Bulgaria là quốc gia mà các tội ác cộng sản xâm phạm trầm trọng nhất. Có một tội ác khiến cho giới lãnh đạo cộng sản Bulgaria khó chịu. Ðó là việc thay tên đổi họ tám trăm nghìn người dân bulgaria gốc Thổ nhĩ kỳ. Không chỉ thay tên người sống thôi đâu, mà còn xóa cả tên người chết trên bia mộ.

“Tội ác dưới các chế độ cộng sản đến từ ý thức hệ cộng sản. Lý thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản là tiền đề cho những bạo động tinh thần và thể xác để dần dà trở thành cuộc khủng bố toàn diện. Một số đảng phái tả khuynh, thừa kế các đảng cộng sản, không đủ can đảm hoặc không muốn công khai kết án những chế độ cộng sản trước kia, chứng tỏ rằng họ chưa hoàn tất tiến trình cải cách.

“Ðể biết rõ khách quan số lượng những nạn nhân, các kho lưu trữ của những cơ quan mật vụ tại các nước cộng sản cũ phải được mở cửa. Sự kiện mà các kho lưu trữ này còn đóng kín, cho thấy chúng ta còn phải hoạt động nhiều hơn nữa để biết rõ tầm quan trọng thực sự của những tội ác cộng sản”.

Lời phát biểu sau đây của Dân biểu Pháp, Jacques Legendre, có thể xem như câu trả lời hùng hồn cho những luận điểm sai trái và bất lương của báo chí Cộng sản Việt Nam trong nước, dù rằng ông đã tuyên bố trước khi Quân đội Nhân dân, Lao động, Thông tấn xã Việt Nam, Ðài Tiếng Nói Việt Nam... cà lăm cà cặp viết bài chống chế hay lên tiếng ngọng lịu một cách vô vọng:

“Hội đồng Châu Âu, không ngừng tố cáo từ khóa họp này sang khóa họp khác những vi phạm tự do, những tội ác vi phạm tại Châu Âu và khắp nơi trong thế giới. Chăm lo sự tôn trọng chu đáo cho nhân quyền là danh dự và nghĩa vụ của chúng ta. Sao lại có thể tránh việc lên án những tội ác của các chế độ độc tài toàn trị Cộng sản? Chúng ta đã từng lên tiếng tố cáo chủ nghĩa phát xít, chúng ta có lý khi lên án như thế; chúng ta đã từng lên tiếng tố cáo chủ nghĩa Quốc xã, chúng ta có lý khi lên án như thế. Nhưng hiện nay đang hiện hữu những chủ nghĩa độc tài Cộng sản. Bổn phận chúng ta là phải lên án các chế độ này.

“Ðây không phải là cuộc thảo luận lý thuyết và tiên quyết tố cáo một ý thức hệ. Ðây là một biên bản ghi nhận: trong tất cả các quốc gia do Ðảng Cộng sản cầm quyền, suốt thế kỷ 20 khủng khiếp, Cộng sản đã xóa bỏ bầu cử tự do, xóa bỏ chế độ đa đảng, xóa bỏ tự do thông tin, bỏ tù những người đối lập và thảm sát họ. Ðây chính là những sự kiện mà Hội đồng Châu Âu tố cáo khi nó diễn ra khắp nơi. Trước sự kiện ấy, làm sao chúng ta có thể dửng dưng cho được?

“Người chết được tính bằng số triệu. Chẳng cần thiết tranh cãi về con số: vì đây là những cuộc hành quyết đông đảo tập thể trong rất nhiều quốc gia. Staline là một tên đồ tể. Cần có một tòa án hình sự quốc tế để xử tội ác của hắn. Tôi tin rằng một tòa án hình sự quốc tế như thế còn sẽ lưu tâm đến các tên tội phạm Lenine và Trotsky. Tôi không ám chỉ đến tất cả các chủ tịch nước hay lãnh đạo có trách vụ Cộng sản đâu. Nhưng tôi thực tình ngưỡng phục vai trò tích cực của Mikhael Gorbachev.

“Nói gì nữa đây với những điều đã xẩy ra, không riêng ở Liên Xô cũ, mà trong rất nhiều những nước Cộng sản khác. Chúng ta đã nghe bao lời nhân chứng cảm động. Ðổ hết trách nhiệm lên đầu bọn lãnh tụ mê muội kia ư? Phải nhận cho ra sự phát triển tội ác trong tất cả các chế độ Cộng sản suốt thế kỷ 20, đây mới là vấn nạn chính yếu.

“Sự khẳng định như thế khi được nói ra sẽ làm dấy lên những cơn thịnh nộ. Làm như chúng ta không có quyền lên án chủ nghĩa Cộng sản chỉ vì Liên Xô đã thắng chủ nghĩa Quốc xã! Ðúng thì có đúng, nhưng phải nhớ rằng, chính Liên Xô chứ không ai khác đã khởi sự ký kết hiệp ước với Ðức quốc xã. Cái chết của Hitler ở Berlin, sự thắng trận của Hồng quân và quân Ðồng minh không thể làm xóa mờ những tội ác của tên đồ tể Staline.

“Chúng ta có theo “chủ nghĩa xét lại” khi tố cáo Liên Xô cũ không? Có kẻ còn dám nghi ngờ là chúng ta cảm tình với bọn Quốc xã nữa kia. Nhưng không! Chúng ta đang lên án những tội ác mà các chế độ Cộng sản gây ra trong những thời điểm nào đó, như chúng ta đã lên án những tội ác do bọn Quốc xã gây ra, như chúng ta đã lên án những tội ác do bọn phát xít gây ra! Và tôi không quên Trung quốc là một chế độc độc tài toàn trị hôm nay”.

copy

Tội ác chống nhân loại

Lịch sử nhân loại là lịch sử ăn thịt người, cá lớn nuốt cá bé. Trong tiến trình lịch sử, gần như dân tộc nào và quốc gia nào cũng đã phải trải qua những giai đoạn như vậy. Nhưng trong thế giới văn minh ngày nay, nhất là sau khi tổ chức Hội Quốc Liên rồi Liên Hiệp Quốc được thành lập, các quốc gia văn minh trên thế giới đã tìm mọi cách để ngăn chận những tội ác chống nhân loại, xử dụng cả luật pháp lẫn sức mạnh. Tuy nhiên, cho đến nay, những tệ trạng này vẫn chưa được loại trừ hoàn toàn. Sự bó tay của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hiện nay đối với những vi phạm quyền con người nghiêm trọng tại những nước như Trung Quốc, Bắc Hàn, một số nước Phi Châu hay Hồi Giáo... là những thí dụ điển hình. Hôm nay, nhân Nghị Hội Âu Châu đưa ra Nghị Quyết số 1481 lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại, chúng ta thử nhìn qua những nổ lực chống lại loại tội ác này.

CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT

Năm 1945, sau khi Thế Chiến II vừa chấm dứt, mọi thủ tục đã được tiến hành một cách nhanh chóng để trừng phạt những kẻ chủ trương gây chiến và diệt chủng. Ngày 8.8.1945 bốn cường quốc là Mỹ, Anh, Nga và Pháp họp tại London đã ký một thỏa ước thành lập Tòa Án Quân Sự Quốc Tế (International Military Tribunal) tại Nurember nhằm đưa những thành phần phạm tội ác chống nhân loại trong Thế Chiến II ra xét xử, nhất là nhóm Đức Quốc Xã (Nazi). Sau đó, 19 quốc gia khác tuyên bố công nhận thỏa ước này. Tòa Án Quân Sự Quốc Tế nằm ngoài thẩm quyền của Liên Hiệp Quốc. Theo điều 3 của bản Hiến Chương Tòa Án Quân Sự Quốc Tế, tòa này có nhiệm vụ truy tố và xét xử 3 loại tội phạm sau đây:

(1) Tội chống hòa hình (crimes against peace).

(2) Tội phạm chiến tranh (war crimes).

(3) Tội phạm chống nhân loại (crimes agianst humanity).

Ngoài ra, việc lập các kế hoạcch hay âm mưu thực hiện ba loại tội phạm nói trên, cũng bị trừng phạt.

Kể từ ngày 20.11.1945, Tòa Án Quân Sự Quốc Tế bắt đầu các phiên xét xử dưới quyền chủ tọa của Thẩm Phán Hoàng Gia Anh Geoffrey Lawrence. Trong giai đoạn đầu đã có 24 lãnh tụ Đức Quốc Xã bị truy tố về tội phạm chiến tranh. Những người điều khiển Gestapo, cơ quan mật vụ của Đức Quốc Xã, đều bị bắt và bị truy tố.

Cũng vậy, sau khi nạn diệt chủng xẩy ra ở Nam Tư cũ (nay là Serbia và Montenegro) đã bị dẹp tan, ngày 25.5.1993, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã quyết định thành lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về Nam Tư cũ (The International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia – ICTY) để trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm về những vi phạm nghiêm trọng các tội ác chống nhân loại xẩy ra trên lãnh thổ Nam Tư cũ từ 1991.

Tiếp theo, ngày 8.11.1994 Hội Đồng Bảo An cũng đã quyết định thành lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về Rwanda (The International Criminal Tribunal for Rwanda) để trừng phạt những kẻ vi phạm các tội phạm chống nhân loại ở Rwanda.

BẮT ĐẦU QUAN TÂM ĐỀN CỘNG SẢN

Tuy đã có nhiều nỗ lực như đã nói trên, nhưng cho đến nay, nhiều tội ác chống nhân loại rất nghiêm trọng đã xẩy ra trong các chế độ cộng sản vẫn chưa được Liên Hiệp Quốc và các cường quốc Tây Phương đụng đến, mặc dầu các chế độ cộng sản ở Trung Âu và Đông Âu đã sụp để cách đây hơn 15 năm. Những người gây nhiều tội ác chống nhân loại trong các chế độ này vẫn chưa bị truy tố và trừng phạt vì nhiều khó khăn thực tế, tuy các tội ác đó có khi còn nghiêm trọng hơn cả những tội ác của nhóm Đức Quốc Xã.

Hôm 25.1.2006, Nghị Viện Âu Châu họp tại thành phố Strasbourg ở miền đông bắc nước Pháp, đã đưa ra Nghị Quyết số 1481 với đa số áp đảo, 99 phiếu thuận và 42 phiếu chống, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị cộng sản đã vi phạm nhân quyền tập thể.

Điều 2 của Nghị Quyết tuyên bố rằng những chế độ cộng sản toàn trị từng cai trị ở Trung Âu và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả không loại trừ, có đặc điểm là vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những hành vi sau đây:

- Ám sát và hành quyết cá nhân hay tập thể, gây chết chốc trong các trại tập trung, để cho chết đói, đày ải, tra tấn, bắt buộc lao động nô lệ, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể,

- Ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo,

- Vi phạm các quyền tự do lương tâm, tự do tư tưởng, tự do phát biểu và tự do báo chí, ngoài ra còn thiếu vắng đa nguyên về chính trị.

Điều 3 của Nghị Quyết nhận định rằng các chế độ này đã đưa ra chủ thuyết đấu tranh giai cấpnguyên tắc chuyên chính vô sản để biện minh cho tội ác của họ. Sự giải thích hai nguyên tắc trên đã hợp thức hóa việc “loại trừ” những người bị coi là có hại cho sự xây dựng một xã hội mới và vì thế, bị xem là kẻ thù của các chế độ toàn trị cộng sản. Một số lớn các nạn nhân trong mỗi quốc gia chính là công dân của các nước đó. Tiêu biểu nhất là các dân tộc của nước Liên Xô cũ với số nạn nhân đông hơn rất nhiều so với các dân tộc khác.

Sau khi nhận định như trên, điều 4 của Nghị Quyết thừa nhận rằng, mặc dầu có những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị, một vài đảng cộng sản (Âu Châu) đã góp phần vào việc thực hiện dân chủ.

Điều 5 của Nghị Quyết nói đến việc cần thiết phải điều tra, truy tố và đưa những người vi phạm ra xét xử. Điều này viết: “Sự sụp đổ của những chế độ cộng sản toàn trị ở Trung Âu và Đông Âu không được theo dõi trong mọi trường hợp qua một cuộc điều tra quốc tế về các tội ác do chúng đã vi phạm. Hơn nữa, tác giả của những tội ác nầy chưa hề bị cộng đồng quốc tế đưa ra truy tố, như trường hợp các tội ác kinh khủng do Đức Quốc xã vi phạm.”

Trong điều 7 và điều 8, Nghị Quyết nhận định rằng sự cảnh giác của lịch sử là một trong những điều kiện để ngăn ngừa các tội phạm tương tự trong tương lai. Vã lại, sự đánh giá về đạo đức và sự lên án các tội đã vi phạm đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục các thế hệ trẻ. Hơn nữa, Nghị Hội tin rằng những sự đau khổ của các nạn nhân của các tội ác do các chế độ cộng sản toàn trị vẫn đang còn sống hay gia đình của họ đáng được cảm thông, hiểu biết và nhìn nhận.

Điều 9 của Nghị Quyết nhấn mạnh: “Các chế độ cộng sản toàn trị vẫn còn hoạt động tại một số quốc gia trên thế giới và các tội ác vẫn tiếp tục vi phạm. Quan điểm về quyền lợi quốc gia không thể được dùng để ngăn chận sự phê bình thích đáng đối với các chế độ cộng sản toàn trị hiện nay. Nghị Viện mạnh mẽ lên án tất cả những sự vi phạm nhân quyền đó.”

HÀ NỘI PHẢN ỨNG ĐIÊN CUỒNG

Ngay lập tức, nhà cấm quyền Hà Nội đã lên tiếng bác bỏ Nghị Quyết nói trên. Nhật báo Nhân Dân của Đảng CSVN trong số ra ngày 27.1.2006, dười đầu đề “Một nghị quyết sai trái”, đã nói rằng “Có thể khẳng định, chủ nghĩa cộng sản là một thành tựu trí tuệ văn minh của loài người” và “Liên Xô - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - đã phát triển thành một cường quốc hùng mạnh, là lực lượng quyết định thắng lợi trong chiến tranh xóa bỏ chủ nghĩa phát-xít quốc tế, cứu loài người khỏi thảm họa diệt chủng.” Theo bài báo, “Những thực tế hiển nhiên đó không một thế lực nào có thể phủ nhận.”

“Việc Nghị Hội Âu Châu thông qua cái gọi là nghị quyết 1481 không chỉ là hành động sai trái, lỗi thời, mà còn xúc phạm hàng triệu triệu người trên thế giới đã hy sinh quên mình đấu tranh cho một thế giới công bằng, bình đẳng, hòa bình và hữu nghị.”

Sở dĩ Hà Nội đã phản ứng điên cuồng như thế vì Nghị Quyết 1481 của Nghị Viện Âu Châu có liên quan đến các nhà lãnh đạo Đảng CSVN, nhưng các luận điệu được đưa ra chỉ là cãi chày cãi cối.

1.- Liên Sô và Thế Chiến II: Trong các sách giáo khoa cũng như trong bài báo nói trên, Đảng CSVN luôn cho rằng trong Thế Chiến II, chính lực lượng của Cộng Sản là “lực lượng quyết định thắng lợi trong chiến tranh xóa bỏ chủ nghĩa phát-xít quốc tế, cứu loài người khỏi thảm họa diệt chủng” và cho rằng những thực tế hiển nhiên đó không một thế lực nào có thể phủ nhận. Nhưng những sự xác quyết này lại hoàn toàn không đúng với thực tế.

Năm 1939, trước khi Thế Chiến II bùng nổ, hai nước Anh và Pháp đã thuyết phục Stalin gia nhập phe Đồng Minh chống lại phát-xít Đức, nhưng Stalin đã từ chối đề nghị này. Sau đó, Stalin đã làm cả thế giới sửng sốt khi quay sang ký với Đức hiệp ước không xâm lược lẫn nhau!

Tháng 6 năm 1941, sau khi chiếm gần hết Âu Châu, Đức dùng toàn lực quay lại tấn công Liên Xô. Hồng quân Liên Xô thua hết trận này đến trận khác, Stalin phải kêu gọi toàn dân tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Mãi đến năm 1943, khi Đức phải đem quân đối phó với Hoa Kỳ và Đồng Minh, Liên Xô mới lấy lại thế chủ động, đánh bại Đức ở mặt trận Stalingrad và đẩy lui quân Đức ra khỏi bờ cõi.

Vào tháng 4 năm 1945, quân Mỹ, Anh và Liên Xô đã tiến vào thủ đô Berlin của Đức. Ngày 30.4.1945, Hitler tự sát và ngày 8.5.1945 Đức tuyên bố đầu hàng.

Từ năm 1941 đến năm 1945 Liên Xô đã bị tổn thất nặng nề. Các sử gia Tây phương ước lượng tổn thất về nhân mạng của Liên Sô có thể lên đến 40 triệu người, kể cả binh sĩ và thường dân. Riêng trong trận Stalingrad đã có một triệu binh sĩ hy sinh. Thiệt hại về vật chất của Liên Sô cũng rất lớn lao: 1.700 thị trấn và thành phố và khoảng 70.000 làng mạc bị tàn phá.

Nhưng chúng ta có thể nói: Trong Thế Chiến II, nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ, ba nước Liên Sô, Anh và Pháp không thể đánh bại được sự liên kết giữa Đức Quốc Xã và Quân Phiệt Nhật. Liên Sô chỉ lợi dụng sự khó khăn của Đức Quốc Xã và Quân Phiệt Nhật khi phải đối phó với Hoa Kỳ và Đồng Minh, đem quân chiếm Đông Âu và Mãn Châu, mở rộng bờ cõi.

VẤN ĐỀ TRUY TỐ CÁC TỘI PHẠM

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, tứ sau Đại Chiến Thứ II đến nay, có 3 tòa án quốc tề đặc biệt đã đưộc thiết lập để xét xử các tội ác chiến tranh và các tội ác chống nhân loại, đó là Tòa Án Quân Sự Quốc Tế, Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về Nam Tư cũ và Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về Rwanda, nhưng chưa có tòa án đặc biệt nào được thiết lập để truy tố và xét xử các tội phạm của các chế độ cộng sản. Một câu hỏi được đặt ra là Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) được thiết lập năm 1998 có thẩm quyền xét xử các tội phạm chống nhân loại của các chế độ cộng sản hay không?

Theo điều 5 của Quy Chế Rome về Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (Rome Statute of the International Criminal Court) tòa án này có nhiệm vụ xét xử 4 loại tội phạm sau đây:

(1) Tội diệt chủng (the crime of genocide)

(2) Các tội chống nhân loại (crimes against humanity).

(3) Các tội phạm chiến tranh (war crimes).

(4) Tội xâm lăng (the crime of aggeression).

Nhưng chúng ta sẽ gặp hai trở ngại chính sau đây khi truy tố tội phạm của các chế độc cộng sản:

Trở ngại thừ nhất: Điều 23 Quy Chế này quy định rằng quy chế này không có hiệu lực hồi tố, có nghĩa là quy chế này chỉ áp dụng cho các tội phạm xẩy ra kể từ ngày 1.7.2002, ngày có số quốc gia phê chuẩn vừa đủ túc, chứ không áp dụng cho các vi phạm xẩy ra trước đó. Như vậy những sự vi phạm tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại của các chế độ cộng sản trước đó không thuộc thẩm quyền của tòa này. Vì thế, các tội ác của Việt Cộng trong cuộc cải cách ruộng đất 1952 và 1954 và trong vụ Tết Mậu Thân, hay các tội phạm của các lãnh tụ của Khmer Đỏ trong thời gian cầm quyền tại Cam-bốt đã thoát khỏi Tòa Án Hình Sự Quốc Tế thường trực.

Trở ngại thứ hai: Vì Tòa Án Hình Sự Quốc Tế đã được thành lập dựa trên một hiệp ước đa phương, nên quốc gia nào muốn gia nhập hay không là tùy ý và chỉ quốc gia nào gia nhập mới bị ràng buộc bởi hiệp ước này mà thôi. Rất nhiều quốc gia không muốn ký kết hay phê chuẩn “Quy Chế Rome về Tòa Án Hình Sự Quốc Tế” vì thấy việc hình thành tổ chức này không có lợi cho trường hợp của quốc gia họ., đó` là trường hợp của Hoa Kỳ, Trung Cộng, Ý, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Iraq, Việt Nam, v.v.

Nhiều người sẽ hỏi rằng nếu Tòa Án Hình Sự Quốc Tế thường trục không xét xử được, tại sao không lập một tòa án hình sự đặc biệt để xét xử tội phạm của các chế độc cộng sản như Tòa Án Quân Sự Quốc Tế, Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về Nam Tư cũ và Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về Rwanda?

Điều 41, Chương VII của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc có quy định:

“Hội đồng Bảo An có thể quyết định những biện pháp nào không liên hệ đến việc xử dụng vũ lực được xử dụng để tạo hiệu quả cho các quyết định của mình, và có thể kêu gọi các thành viên của Liên Hiệp Quốc áp dụng các biện pháp như thế. Các biện pháp này có thể bao gồm việc ngưng một phần hay toàn bộ các quan hệ thương mại, lưu thông bằng đường xe lửa, đường biển, đường hàng không, bưu điện, điện tín, truyền thanh, và các phương tiện truyền thông khác, và cắt đứt các quan hệ ngoại giao.”

Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã dựa vào điều luật này để thiết lập các tòa án hình sự đặc biệt. Tuy nhiên, với tội phạm của các chế độ cộng sản, Hội Đồng Bảo An lại gặp một trở ngại khác là quyền phủ quyết (veto) của Nga và Trung Quốc. Nếu một trong hai nước này bác bỏ, Hội Đồng Bảo An Liên không thể hình thành một tòa án hình sự đặc biệt để truy tố tội phạm của các chế độ cộng sản được. Có lẽ vì khó khăn này, cho đến nay các cường quốc Tây Phương vẫn chưa nghĩ đến việc trừng phạt tội ác của các chề độ cộng sản. Có thẻ phải đợi một thời gian nữa, khi có điều kiện thuận tiện, việc lập tòa án truy tố tội ác của chế độ cộng sản mới thực hiện được.

NHỮNG TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI

Điều quan trọng để có thể truy tố và trừng phạt tội ác chống nhân loại là phải mở cuộc điều tra và thiết lập bằng chứng, chứ không thể tố khơi khơi như đa số người Việt chống cộng thường làm. Một hồ sơ đầy đủ các bằng chứng về tội phạm được công bố cũng là một hình thức trừng phạt.

Trong cuốn “Death by Government”, Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa học chính trị tại Đại Học Yale và Đại Học Hawaii, đã liệt kê những chế độ sau đây vào 10 chế độ gây chết chốc nhất (most murderous regimes) trong thế kỷ 20, đó là: Liên bang Soviet, Cộng Sản Trung Hoa, Đức Quốc Xã, chế độ Quân Phiệt Nhật, Cam-bốt dưới thời Khmer Đỏ, Thổ Nhỉ Kỳ dưới thời Young Turks, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Ba Lan và Pakistan dưới thời Yahya Khan.

Giáo sư R.J. Rummel cũng đã liệt kê số nạn nhân bị sát hại trong thế kỷ 20 như sau:

61.911.000 bị chết trong các trại tù Gulag của Liên Bang Sô Viết.

35.236.000 bị chết dưới chế độ cộng sản Trung Quốc.

20.946.000 bị chết vì chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã.

5.964.000 bị chết dưới thời Quân Phiệt Nhật.

2.035.000 bị chết dưới thời Khmer Đỏ.

1.883.000 bị chết dưới chề độ diệt chủng ở Thổ Nhĩ Kỳ.

1.670.000 bị chết vì cuộc chiến Việt Nam.

1.585.000 bị chết do nạn thanh lọc chủng tộc tại Ba Lan.

1.503.000 bị chết trong thời Young Turks.

1.072.000 bị chết dưới chế độ Tito.

Trường hợp của Liên Sô được coi là trường hợp điển hình nhất của tội ác chống nhân loại của chủ nghĩa cộng sản: Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, Vladimir Lenin lật đổ chế độ quân chủ ở Nga và thành lập Liên bang Sô Viết gồm Nga và 14 nước láng giềng. Từ đó dân Nga phải sống dưới một chế độ cùng khốn.

Năm 1924, Lenin qua đời và Joseph Stalin lên thay thế. Stalin áp dụng triệt để chính sách tập thể hoá nông nghiệp, người nào tỏ ý chống đối liền bị giết hoặc đưa vào các trại lao động tập trung, tiếng Nga gọi là Gulag. Từ năm 1929 đến 1953, có khoảng từ 15 đến 20 triệu người Nga bị thiệt mạng, phần lớn là ở trong các trại tập trung.

Các sử gia ước tính rằng đã có khoảng 1/5 nạn nhân của Stalin chết trong các trại tập trung ở Kolyma, một vùng xa xôi hẻo lánh cách thủ đô Moscow khoảng 9000 cây số. Cuộc sống trong các trại này dã man và khủng khiếp không thua gì các trại tập trung của Đức Quốc Xã ở Auschwitz, Ba Lan, trước đó, nên thường được gọi là Auschwitz của Nga.

Trước hết các tù nhân bị nhét vào những xe chở gia súc và đưa đến Vladivostok. Trên chặng đường đó, một số người đã bị chết ngạt vì cảnh chen chúc trên xe. Từ Vladivostok, tù nhân bị đưa lên tàu đến Kolyma. Cuộc hải trình dài từ 8 đến 10 ngày. Nhiều người đã chết trong cuộc hải trình này. Có một chiếc tàu chở mấy ngàn tù nhân bị kẹt trong những tảng băng 9 tháng sau mới tới Kolyma và không một tù nhân nào còn sống sót! Một chiếc tàu khác chở 3000 tù nhân tới cảng Madagan, thủ phủ Kolyma, đúng hạn nhưng không còn có tù nhân nào sống sót cả, vì các tù nhân nổi loạn trên tàu, cai tù dùng vòi nước xịt vào phòng giam, biến phòng giam thành một bể nước dưới 40 độ âm. Toàn bộ tù nhân trên tàu đều biến thành những cây nước đá!

Lúc đó ở Kolyma có hơn 100 trại tập trung. Khi vào trại, đa số tù nhân phải làm công việc đào vàng 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày, nhưng chỉ được lãnh khẩu phần là 700 gram bánh mì và một tô xúp bắp cải. Trong trường hợp không đạt được chỉ tiêu, họ bị bớt khẩu phần.

Không phải chỉ ở Kolyma mà ở tất cả các trại tập trung trên khắp lãnh thổ Liên Sô, các tù nhân đều phải sống trong những điều kiện như thế. Hầu hết các tù nhân chỉ có thể sống được trong vòng 2 năm. Các sử gia ước tính có khoảng 90% tù nhân chết trong tù. Năm 1991, sau khi chế độ Liên Sô tan rã, Tổng thống Boris Yeltsin ra lệnh thả 10 tù nhân chính trị cuối cùng trong các trại tập trung!

Về trường hợp Việt Nam, trong cuốn “Death by Government”, sau khi trình bày qua lý lịch của Hồ Chí Minh, Giáo sư R.J. Rummel đã mô tả một cách tổng quát về tội ác của Đảng CSVN trong thời kỳ đầu như như sau:

“Khi Việt Minh tranh đấu chống Pháp, họ cũng thực hiện một cuộc chiến tranh bí mật tồi bại chống lại những người quốc gia không cộng sản cạnh tranh với họ. Họ ám sát, hành quyết và tàn sát tập thể tất cả các nhóm quốc gia, kể cả những thân nhân, bạn bè và vợ con của họ. Nhưng những người quốc gia không phải là những nạn nhân duy nhất, “giai cấp thù nghịch” cũng bị “trừng phạt”. Họ cũng thanh toán cả các nhóm Trotskystes và những người khác bị coi là đi lệch chủ nghĩa. Hàng ngàn người trong giới trí thức cao cấp và những người Việt sáng giá đều bị tiêu diệt trong thời gian từ 1945 đến 1947 khi cộng sản củng bố quyền hành của họ.”

Giải thể chế độ Cộng sản

Quá trình tự hủy của chế độ Cộng sản
Dương Thanh Thuỳ My

I. Tóm lược lịch sử chế độ cộng sản thế giới

Chế-độ chủ-nghĩa Cộng-Sản bắt đầu thành hình từ nước Nga năm 1917 và bị hủy diệt vào năm 1991 cũng tại quốc-gia đã khởi sinh ra nó.

- Người đầu tiên đưa ra học thuyết Cộng-Sản là Karl-Marx, ông ta viết Bản Tuyên-Ngôn Cộng-Sản năm 1848 và sau đó cho in tập thứ nhất Tư-Bản Luận vào năm 1867.
- Hưởng ứng lý-thuyết của Karl-Marx, dân vô-sản Paris (Pháp) nổi dậy chống tư-bản và thành lập "Công-Xã Paris" đầu tiên vào năm 1871.
- Sau khi Karl-Marx qua đời năm 1883, Friedrich-Engels cho in tiếp tập Tư-Bản Luận thứ hai 1885 và tập thứ ba vào năm 1894.
- Do ảnh hưởng lý-thuyết của Marx và Engels, Đảng Lao-Động Dân-Chủ Xã-Hội do Plekhanov và Axelrod là 2 trí thức người Nga sống lưu vong tại Thụy-Sĩ thành lập năm 1898. Lenin lúc đầu là đảng-viên hoạt động trong Đảng LĐXHCN.
- Sau kỳ đại-hội Đảng LĐXHCN họp tại Luân-Đôn (Anh) năm 1903, Đảng này chia ra 2 phe: Bolshevik (đa số) và Menshevik (thiểu số).
- Năm 1912 hệ phái Bonshevik chính thức tổ chức thành một đảng phái do Lenin đứng đầu.
- Cá nhân Lenin thuộc giai cấp trung lưu, cha của ông là một viên chức cao cấp trong triều đình Nga Hoàng. Vì không thể tiếp tục học luật do biến cố Nga Hoàng Aleksandr ĐệTam bị mưu sát chết năm 1894, Lenin bỏ học và bắt đầu hoạt động cách-mạng từ đó.
- Vladinir Ilyich Lenin lãnh-đạo Đảng Bonshevik lấy chủ-nghĩa Mác-Xít làm căn bản cho tất cả hoạt động chính trị, tức là dùng duy-vật biện-chứng và đấu tranh giai-cấp, tập trung quyền lực tại trung-ương Đảng và đặt nền vô-sản chuyên-chính lên dân chúng. Lenin sống lưu vong và hoạt động bí mật ở hải ngoại.
- Ngày 8-3-1917 có nổi lên cuộc biểu tình tại St. Petersburg (thành-phố Nga) do dân chúng đòi được cấp phát thực-phẩm, sau đó trở thành cuộc biến loạn chính-trị. Ngày 14-3-1917 triều đình Nga bất lực, chính quyền chấp thuận cho Aleksandr Kerensky làm Thủ-Tướng chính-phủ lâm thời. Ngày 17-3-1917 Nga Hoàng Nicholas Đệ Nhị đồng ý thoái vị, Nga trở thành một nước Cộng-Hòa.
- Tháng 4/1917 Lenin mới từ ngoại quốc trở về Nga, tháng 6/1917 định đảo chính lật đổ chính quyền Kerensky nhưng bất thành, nên Lenin lại phải tạm chạy lánh nạn tại Phần-Lan.
- Sau đó, Lenin bí mật trở về Nga tiếp tục hoạt động. Cơ hội thuận lợi đưa đến, đêm 6 rạng ngày 7-11-1917 Lenin được đa số ủy-viên trung-ương Đảng Bolshevik đồng ý,
làm một cuộc bạo động bất ngờ cướp chánh-quyền tại thủ-đô Nga. Kerensky, Thủ-Tướng chính-phủ lâm-thời, phải chạy tị nạn ở New-York (Mỹ). Lenin thành lập "Hội-Đồng các Ủy-Viên Nhân-Dân", đứng đầu Hội-Đồng và Trotsky giữ ghế Ủy-Viên Ngoại-Giao, Stalin ghế Ủy-Viên các SắcTộc. Sau cuộc bầu cử tháng 1/1918, Lenin giải tán quốc-hội và Đảng Bolshevik đổi tên thành Đảng Cộng-Sản, nền vô-sản chuyên chính bắt đầu trong lịch-sử nước Nga.
- Cuộc cách-mạng ngày 7-11-1917 do Lenin khôn khéo lợi dụng thời cơ, làm một cuộc đảo-chánh thành công trong hoàn cảnh đã chín mùi của chế-độ Nga Hoàng. Sau chiến thắng của Đảng Bolshevik, thành-phố Petersburg nước Nga được đổi tên mới thành Leningrad, đồng thời "Liên Bang Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Xô-Viết" cũng được thành lập. (Theo tài liệu của văn-hào Nga Aleksandr I. Solzhenitsyn cho biết sau hơn 10 năm sống lưu vong tại thị-trấn Cavendish, Vermont (Mỹ). Ông bị Brevzhnev Tổng Bí Thư Đảng CSLX kết tội phản quốc về những bài văn và tác-phẩm chống chế-độ. Ngày 17-9-1991 ông được Tòa-Án Nga tuyên bố hủy bỏ bản án với kết luận là "vô chứng cứ").
- Năm 1919 Đệ Tam Cộng-Sản Quốc-Tế ra đời tại Mạc-tư-Khoa, phổ biến học-thuyết Cộng-Sản khắp thế giới. Đảng Cộng-Sản Mỹ cũng được thành lập cùng năm 1919.
- Năm 1921 Đảng Cộng-Sản Trung-Quốc họp lần đầu ở Thượng-Hải.
- Năm 1922, Josef Stalin thợ đóng giày và cũng là đồng-chí phụ tá thân cận của Lenin trở thành Tổng Bí-Thư Đảng Cộng-Sản Liên-Xô.
- Năm 1924 Lenin qua đời, Stalin thay thế lãnh-đạo Đảng nhưng chỉ giữ chức Tổng Bí-Thư cho đến ngày chết. Đảng Cộng-Sản Mông-Cổ cũng được thành lập cùng năm 1924. Vladimir Ilych Lenin có tên thật là Ulyanova (1870) người lãnh-tụ Cộng-sản đầu tiên trên thế giới đã chết khổ sở và cô đơn, không có một "đồng-chí" nào bên cạnh. Lê Nin bị chứng đau tim và ngồi xe lăn như một xác chết, ngất xủi nhiều lần trước khi qua đời vào ngày 21-1-1924 (Tài liệu do Bà T. Koloskava, Phó Giám-Đốc bảo-tàng-viện Lê Nin ở Công-Trường Đỏ tiết lộ năm 1992)
- Năm 1929 Việt-Nam Cách-Mạng Đồng Chí Hội cải tổ thành "An Nam Cộng-Sản Đảng", Đảng Tân-Việt Cách-Mạng cũng tổ chức thành "Đông Dương Cộng-Sản Liên-Đoàn".
- Tháng 2/1930 Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh triệu tập đại-biểu 2 Đảng này tại Hương-Cảng để thành lập Việt-Nam Cộng-Sản Đảng. Tháng 10/1930 cũng tại Hương-Cảng, các đại-biểu Đảng "Việt-Nam Cộng-Sản" do Hồ Chí Minh triệu tập đổi tên đảng thành "Đông Dương Cộng-Sản Đảng".
- Tháng 4/1931 Đông Dương Cộng-Sản Đảng được Cộng-Sản Quốc-Tế công nhận là một thành viên, có nhận tiền trợ cấp hàng tháng của tổ-chức quốc-tế này.
- Năm 1944 Albania là quốc-gia Cộng-Sản đầu tiên ở Đông Âu.
- Từ 1944 đến 1945 các nước: Ba-Lan, Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni, Bảo-gia-lợi và Đông Đức trở thành Cộng-Sản chư hầu của Liên-Xô.
- Năm 1945 Nam-Tư cũng trở thành quốc-gia Cộng-Sản dưới sự lãnh đạo của Tito. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng tuyên bố thành lập nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa ngày 2-9-1945.
- Năm 1946 Cộng-Hòa Nhân-Dân Bảo-gia-lợi được thành lập và Đảng Công-Nhân Bắc Triều-Tiên cũng ra đời.
- Năm 1947 sau cuộc bầu cử, Ba-Lan trở thành quốc-gia Cộng-Sản.
- Năm 1948 Cộng-Sản Mã-Lai bắt đầu thành hình, đồng thời Bắc Hàn cũng thành lập Cộng-Hoà Dân-Chủ Nhân-Dân Triều-Tiên và Cộng Sản cũng nắm quyền ở Tiệp-Khắc.
- Năm 1949 Đảng Cộng-Sản Trung-Quốc cũng thành lập nước Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa.
- Ngày 5-3-1953 Stalin qua đời, trùm Mật-Vụ Beria âm mưu chiếm quyền nhưng bất thành và bị giết.
- Năm 1954 Nikita Khrushchev lên nắm quyền Tổng Bí-Thư Đảng Cộng-Sản Liên-Xô.
- Năm 1956 Khrushchev đọc bài diễn văn kết án Stalin tại đại hội Đảng lần thứ 20.
- Năm 1959 Fidel Castro chiếm chính-quyền ở Cuba, thành lập nước Cộng-Sản đầu tiên ở Tây Bán Cầu.
- Năm 1961 Đông Đức cho xây bức tường ô nhục Bá-Linh.
- Ngày 15-10-1964 Khruschev bị lật đổ phải về hưu, Lenonid Brezhnev lên thay giữ chức Tổng Bí-Thư.
- Năm 1966 Mao Trạch Đông Chủ-Tịch Đảng Cộng-Sản Trung Quốc phát động cuộc cách-mạng văn-hóa ở Hoa lục.
- Năm 1975 Angola, Mozambique trở thành 2 nước Cộng-Sản đầu tiên ở Châu Phi. Quốc gia Lào cũng trở thành nước Cộng-Sản vào năm này.
- Năm 1977 Ethiopia cũng tuyên bố thành lập nước Cộng-Sản, sau khi hoàng-đế nước này bị đảo chánh.
- Năm 1978 Đặng Tiểu Bình bắt đầu cầm quyền Đảng Cộng-Sản Trung Quốc.
- Năm 1979 Nicarugua quốc gia ở Trung Mỹ cũng do phe Cộng-Sản cầm quyền.
- Ngày 7-1-1979 CSVN đánh chiếm Cao-Miên và áp đặt chế độ Cộng-Sản lên quốc gia này.
- Ngày 10-10-1982 Brezhnev chết sau cơn bệnh, ngày 12-10-1982 Yuri Andropov lên thay thế, được cử làm Tổng Bí-Thư.
- Ngày 9-2-1984 Andropov chết, ngày 13-2-1984 Konstantin Chernenko 72 tuổi lên thay làm Tổng Bí-Thư.
- Ngày 10-3-1985 Chernenko chết vì đau yếu, ngày 11-3-1985 Mikhail Gorbachev (sinh năm 1931), Ủy-Viên Bộ Chính-Trị Đảng Cộng-Sản Liên-Xô được bầu làm Tổng Bí-Thư. Tuyên bố chính sách Glasnost và Perestroika (đổi mới và cởi mở).
- Ngày 19 đến 21-11-1985 họp thượng đỉnh giữa Gorbachev và Tổng thống Reagan tại Geneve.
- Ngày 8-12-1987 Gorbachev và TT Reagan ký hiệp ước hủy bỏ 2611 hỏa tiễn tầm trung của hai nước.
- Từ 15-5-1988 đến 15-2-1989 quân đội Liên-Xô rút khỏi Afghanistan.
- Ngày 3-6-1989 hàng triệu người biểu tình gồm: học-sinh sinh-viên, công-nhân, công-chức và binh sĩ tại công trường Thiên An Môn Bắc-Kinh đòi cải cách chính-trị và xã-hội, Đặng Tiểu Bình phải về hưu và Lý Bằng phải từ chức. Cuộc biểu tình bị đàn áp, hàng ngàn người chết và bị thương.
- Ngày 25-8-1989 Ông Tadeusz Mazowiecki thuộc Công Đoàn Đoàn-Kết Ba-Lan trở thành Thủ-Tướng đầu tiên không Cộng-Sản ở Đông-Âu.
- Ngày 11-10-1989 Đảng Cộng-Sản Hungary (Hung-gia-Lợi) đã giải tán theo đòi hỏi của dân chúng, lãnh tụ Đảng Karoly Grosz bị bắt buộc phải từ chức.
- Ngày 12-11-1989 bức tường ô nhục Bá-Linh bị phá vỡ, ngày 1-12-1989 Quốc-Hội Đông Đức do Đảng Cộng-Sản cầm quyền tuyên bố giải tán.
- Ngày 2 và 3-12-1989 TT. George Bush (Mỹ) họp với TT Mikhail Gorbachev ở Malta .
- Ngày 10-12-1989 chế-độ Cộng-Sản tại Tiệp-Khắc sụp đổ, Chủ-Tịch Đảng Gustav Husak bị bắt buộc phải từ chức.
- Ngày 22-12-1989 một cuộc đảo chánh đẫm máu tại Romania lật đổ chế-độ độc-tài Cộng-Sản, tòa-án quân-sự đặc-biệt xử hành quyết Ceaucescu ngày 25-12-1989.
- Ngày 15-1-1990 Quốc-Hội Bulgaria biểu quyết truất quyền Đảng Cộng-Sản và tiến hành bầu cử tự do tháng 3/90.
- Ngày 7-2-1990 Đại-Hội Đảng Cộng-Sản Liên-Xô do Gorbachev chủ tọa, biểu quyết huỷ bỏ độc tôn chính-trị từ trung-ương đến địa phương và chấp nhận chế-độ chính-trị đa đảng.
- Năm 1990 Tiểu Bang Lithuania thuộc Nga chấp nhận chế-độ đa đảng và tuyên bố chấm dứt sự thống thuộc Đảng Cộng-Sản Liên-Xô.
- Tháng 5/1990 Boris Yelsin được bầu làm Tổng-Thống Liên Hiệp Nga, tháng 7/1990 bỏ Đảng Cộng-Sản Nga.
- Ngày 12-6-1991 Yelsin thắng cuộc phổ thông đầu phiếu để trở thành vị Tổng-Thống đầu tiên của Liên-Bang Nga, xứ Cộng-Hòa lớn nhất của Xô-Viết .
- Ngày 19-8-1991 nhóm Cộng-Sản cuồng tín làm cuộc đảo chánh Gorbachev nhưng bất thành. Tháng 9/1991 Gorbachev từ bỏ cương vị Tổng Bí-Thư Đảng và khuyến cáo giải tán Đảng Cộng-Sản Liên-Xô.
- Ngày 8-12-1991 "Khối Thịnh-Vượng Chung các nước Cộng-Hoà Độc-Lập" được thành lập bởi Liên Bang Nga của Yelsin, Cộng-Hòa Belarus của Shushkevick và Cộng-Hòa Ukraine của Kravchuk, ký kết tại Belarus.
- Ngày 17-12-1991 Gorbachev hội họp với Yelsin và thỏa thuận chuyển giao quyền hành từ "Liên Bang Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Xô-Viết" sang chính-phủ "Khối Thịnh-Vượng Chung các Nước Cộng-Hoà Độc-Lập".
- Ngày 25-12-1991 Mikhail Gorbachev đã chính thức tuyên bố từ chức trong một bài diễn văn đọc trên truyền hình Xô Viết. Ngay sau đó, cờ đỏ búa liềm được kéo xuống và vệ-binh trương cờ ba màu của Cộng-Hòa Nga trên nóc Điện Cẩm-Linh, đây là dấu hiệu rõ ràng nhất của một chế độ được cáo chung và đổi mới.

Trong thời gian 74 năm nầy, trên thế giới (khoảng 170 nước) đã có những quốc-gia bị chủ-nghĩa Cộng-sản gieo rắc tai họa tàn sát, khủng hoảng và nghèo đói theo bảng ghi nhận dưới đây :
1/ CHÂU Á: Trung-Quốc, Mông-Cổ, Bắc Triều-Tiên (Bắc-Hàn), Việt-Nam, Lào, Cao-Miên, A-phú-Hản, Ấn-Độ.
2/- CHÂU PHI: Angola, Ethiopia, Mozambique, Congo, Algeria, Libya và Somalia.
3/- CHÂU MỸ LA-TINH: Cuba, Nicaragua, Peru, Chile và Bolivia.
4/- ĐÔNG ÂU: Albania, Bulgaria,Tiệp-Khắc, Phần-Lan, Đông Đức, Hunggary, Ba-Lan, Romania, Nam-Tư.
5/- VÙNG TRUNG-ĐÔNG: Ai-Cập, Iraq, Syria và Yemen.

Qua phần trình bày tóm lược về tiến trình phát-triển rồi bị hủy diệt của chế-độ cộng-sản trên thế giới. Khách-quan mà nhận định thì học-thuyết này quả là không tưởng cho nhân-loại. Những hậu quả của nó không chỉ làm thiệt hại cho chính quốc-gia khởi xướng mà còn tạo ra muôn ngàn đau thương cho nhiều nước khác. Dĩ nhiên luật đào thải của thế giới không thể nào chấp nhận một sự thoái-hóa phản lại tiến-trình phát-triển chung cho con người đang sống trên hành tinh trái đất này.

II. Nước Nga sau ngày 25.12.1991

Sự phá sản của các chế-độ Cộng-Sản Nga cũ kéo theo hàng loạt băng hoại khác trên một đất nước mà có thời làm bá chủ và "thành đồng vách sắt" của hệ-thống xã-hội chủ-nghĩa. Hậu quả tàn khốc này ngày nay đại đa số dân chúng Nga phải hứng chịu, quả là bất công và cần phải xét lại.

Thiết nghĩ, để khách quan nhận xét và có một kết luận trung thực nhất về học-thuyết cộng-sản, xin trích dẫn vài đoạn trong bài diễn văn của vị Tổng-Thống Cộng-Hòa Nga Boris Yeltsin đọc trước lưỡng viện quốc-hội Mỹ ngày 17-6-1992 như sau :

"Thế-giới có thể an tâm được rồi, thần tượng Chủ-Nghĩa Cộng-Sản đã một thời lan tràn khắp nơi
gây xung đột, thù hận và tàn bạo vô biên cho xã-hội loài người và nhân loại vẫn còn sợ nó, nay đã sụp đổ. Nó đã sụp đổ thì không bao giờ ngóc đầu dậy được nữa". "Tự-do sẽ không còn bị lừa gạt, không thể nào có sự sống chung giữa chế-độ dân-chủ và chế-độ nhà nước chuyên-chế. Không thể nào có sự sống chung giữa nền kinh-tế thị-trường và quyền lực đòi kiểm soát mọi sự, mọi người".

"Chúng tôi đã chọn không trả thù và không đòi công-lý đối với con quái vật khổng lồ đã nằm xuống được biết qua cái tên Đảng Cộng-Sản Xô-Viết".

"Đối với chúng tôi, bài học xấu nhất của quá khứ ẩn hiện rõ nhất ngày nay mà trước đây không bao giờ có. Bài học đó được nhìn thấy qua
một đất nước hoang tàn, nền kinh-tế hầu như tê liệt, người cộng sản Bôn-xê-vích lên nắm quyền dựng lên một chế-độ chuyên-chế, tạo ra một guồng máy chiến tranh khổng lồ và một nền kỹ-nghệ quân-sự phức tạp không biết thế nào là đủ. Không bao giờ cho phép tình trạng đó xảy ra nữa".

III.Việt Nam sau ngày 30.4.1975



Năm 1976 ChO' nước Tôn Đức Thắng theo nghị quyết của Trung ương Đảng, đổi tên nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa thành Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Hiến pháp mới nhất của nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam được ban hành ngày 15-4-1992, vẫn không có gì sáng tạo qua Chương I, Điều 4: "Đảng CSVN, đội tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ-nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ ChO'Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và Xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến-pháp và pháp-luật ". Tất cả những người Việt-Nam đều quen thuộc về các danh từ Đảng lãnh đạo, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là thành phần chủ lực, tư tưởng Mác-Lê và Hồ ChO'-Tịch là đỉnh cao trí tuệ loài người v.v… Sau thắng lợi, những người cộng-sản Việt-Nam đã chứng-minh cho mọi người trong nước lẩn quốc-tế thấy được sự chậm tiến lạc hậu về tư-tưởng, khô cứng lệ thuộc hoàn toàn vào học thuyết Cộng-sản.

Những người Cộng-Sản Việt-Nam hiện đang làm việc trong hệ thống Đảng, Quốc-Hội và Nội-Các Chính-Phủ của Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Thật ra, chia làm 3 lãnh vực chuyên-môn cho nó có vẻ biệt lập và có hệ thống tổ-chức tiên tiến, nhưng thực quyền thì cũng chỉ do Đảng lãnh-đạo mà thôi. Nói cho giản dị, theo "truyền thống" thì bất cứ Đảng Cộng-Sản nào cũng đều giống theo khuôn mẫu của đàn anh Liên-bang Xô-Viết cả. Thí dụ, chức vụ Chủ-Tịch Đảng tức là lãnh-tụ Đảng thì chỉ có một người được quyền có mà thôi, như ở Liên-Xô trước kia là do Lê-nin là Chủ-Tịch Đảng, khi chết rồi Stalin có lên thay, chỉ được gọi là Tổng Bí-Thư mà thôi, các đời kế tiếp cũng y như vậy, đến Gorbachev thì chấm dứt. Ở Việt-Nam, Hồ ChO' Minh là Chủ-Tịch Đảng (thường gọi tắt là Hồ ủ-ịch), sau khi Hồ Chí Minh chết thì Lê Duẩn lên thay, cũng giữ chức Tổng Bí-Thư cho đến chết, người sau cùng bây giờ là Nông Đức Mạnh cũng gọi y như thế.

Nhưng hãy coi cái gương của Gorbachev, ông ấy bị quân-đội của ông đảo chánh rồi đi luôn sự nghiệp cách-mạng của mình. May mắn là ông ta không bị giết chết, vì có Yeltsin giải cứu kịp thời. Nhưng dân chúng Nga không còn thích chế độ nghèo đói và chém giết nhiều quá nên đã bầu phiếu cho Yeltsin làm Tổng thống nước Nga. Vấn đề kinh tế thị-trường tự-do, nước Nga đang làm một cuộc cách mạng kinh-tế và bắt tay với Mỹ để xin cứu viện, tại sao CSVN không bắt chước làm y như vậy? Có thể các ông sợ khó khăn, nguy hiểm mà không thành công nên còn do dự? Dù sao, cuộc đời cách-mạng đã trót hy sinh nhiều rồi, bây giờ dấn thân cho trọn với nhân dân cũng không có gì hối hận đâu. Con người ai cũng có lần phải chết, khác nhau là ở chỗ "lưu danh thiên cổ" hay là "lưu xú vạn niên" mà thôi.

Nếu các ông không tin lời, xin đơn cử ra đây vài dẫn chứng về những đồng-chí của các ông đã chết như sau :

Hồ-chí-Minh bôn ba hoạt động chính trị ở hải ngoại vì không tiếp tục học được, nhân thời cơ chiến tranh quốc tế (1939-1945) hỗn loạn ở Việt-Nam,
về nước cướp công lao của những nhà cách-mạng quốc-gia chân chính, tàn sát các Đảng phái, lên nắm chính quyền và thực thi chế-độ chuyên chính vô-sản. So sánh với Lê-nin của CSLX thì cũng tương tự như vậy, dù cố thần thánh hóa hay che đậy rồi bây giờ mọi người cũng đều biết, mọi người ghê tởm cho kẻ gian manh thủ-đoạn và ác độc không thể tưởng. Biết bao nhiêu triệu thanh niên và dân chúng đã hy sinh vô nghĩa vì sự ngông cuồng của "cho' già dân tộc"?

Rõ ràng ai cũng có lần phải chết, vinh hay nhục là tự mình mà thôi. Nhưng cái hậu quả của nó còn ảnh hưởng cho con cháu mình nữa, con gái Lê-nin và con trai của Khruschev sau khi cha qua đời phải bỏ quê hương mà chạy sang Mỹ để tạm sống qua ngày. Các ông có muốn con cháu mình phải chạy trốn như con của ông Phó Thủ Tướng Phạm Hùng hay không? (Cha làm Phó Thủ Tướng chết ngày 10-3-1988, ngày 19-3-1988 đã phải chạy tị nạn ở Bắc-Kinh). Sự thật vẫn là sự thật mà thôi.

Hiện nay trong guồng máy lãnh đạo CSVN không có nhân vật nào hội đủ yếu tố tài năng và uy tín để điều hành Đảng cũng như chánh-phủ. Đó là hậu quả tất nhiên của sự
thanh-trừng, tranh giành, độc tài và giáo điều từ nhiều năm nay trong bộ máy chuyên-chính vô-sản này vậy. Vấn đề điều hành quốc gia từ trung-ương cho đến các địa phương thì ra sao? Cán bộ đầu não thì tranh giành quyền lực lẫn nhau, chia chác quyền lực để dễ tạo vây cánh và phe nhóm, lo củng cố địa vị càng lâu và vững chắc càng tốt. Các cán-bộ trung-cấp địa-phương Tỉnh, Huyện thì hùng cứ một vùng, tự do thực thi quyền hành với dân chúng mà không được huấn luyện về chức-năng chuyên nghiệp của mình. Các cán-bộ hạ tầng cơ-sở Xã, Ấp thì chỉ biết vâng lệnh trên, thiếu khả năng thừa hành, tự tiện thi hành chánh sách theo từng địa-phương. Tóm lại, không có sự nhất quán, không được đào tạo cẩn thận, không ý thức về mặt hành xử chức-năng và quan trọng nhất đó là sự lãnh-đạo độc Đảng trong hệ-thống điều hành quốc-gia.

Sau đây là một số những sự kiện nổi trội về hiện tình đất nước Việt-Nam, nhờ tài lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam:

* Về xã hội: Ngoài một số thành phố được trang sức phù hoa để làm cây kiểng cho chế độ (nhờ vào tiên viện trợ và vay dài hạn của tài chánh quốc tế), ở khắp nơi -nhất là những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, nạn thất nghiệp và suy thoái kinh tế trầm trọng đã làm cho
dân chúng nghèo đói khốn khổ, tạo ra hỗn loạn bất an và ảnh hưởng khủng hoảng đến sinh-hoạt đời sống mọi ngành nghề. Nạn trộm cắp, cướp giựt xảy ra hàng ngày đường phố tới mức độ khủng khiếp, nạn xì-ke ma-túy và đỉ điếm cũng hoành hành tới con số đáng ghê sợ. Môi sinh cũng như y-tế gần như không còn được chú ý tới, tiện nghi đời sống tối thiểu cũng dưới mức trung bình (đường sá, cầu cống, điện, nước, thực phẩm, thuốc men v.v...).

* Về văn-hóa:
Nền giáo dục dựa trên căn bản lý-thuyết cộng-sản để cố nhồi nhét vào đầu óc và tư tưởng của học sinh, sinh viên, cán-bộ, cán binh, công nhân viên các ngành nghề theo một chiều hướng nhất định do Đảng lãnh đạo. Cố ru ngủ dân chúng theo luận điệu tuyên truyền rỗng tuếch, không thực tế và xa rời ý thức hệ văn minh tiến bộ của nhân loại hiện nay. Chưa kể tệ nạn phe phái con cháu Đảng-viên, kỳ thị trong việc học hành thi cử. Trình độ chuyên môn giáo dục của giáo viên, giáo sư, giảng sư cũng không đúng mức và lỗi thời.

* Về tham nhũng: Thành phần cán-bộ có chức quyền bất cứ ngành nào cũng đều có dính líu
một cách phổ thông rộng rãi, từ trên xuống dưới, từ thấp lên cao. Nạn buôn lậu ma túy, thuốc men, các loại hàng gia dụng hay xa xỉ, xe cộ, máy móc các loại xảy ra công khai trên các chợ biên giới, chợ trời v.v... Thậm chí còn kín đáo buôn bán luôn cả chất nổ, súng đạn, vủ khí và phi cơ hư hỏng ra nước ngoài, đây chỉ là phần nhỏ. Các cán bộ cao cấp đã bí mật chuyển đô la, vàng bạc và quý kim các loại ra nước ngoài. Những dịch vụ "làm ăn đi đêm" của ngành hải quan, công-an, ngân hàng, kinh tế và ngoại giao là tiêu-biểu nhất về mặt tham nhũng hiện nay ở Việt-Nam. Đặc biệt hơn cả đó là tham nhũng đầu sỏ lãnh đạo Đảng và nhà nước, cấu kết với ngoại bang bán cả tài nguyên quốc gia, chuyển tài sản khôn khéo qua đường dây đầu tư kinh-doanh nước ngoài. Tổn hại này cho dân tộc Việt-Nam ước lượng lên đến hàng tỷ đô la. Điển hình nhất là Đại-Tướng Văn Tiến Dũng, người hùng chiến thắng mùa xuân 1975, là tay tham nhũng có tiếng và giàu có lớn, ở Việt-Nam ai cũng rõ việc này. Ngày 22-10-1992 báo Viễn-Đông Kinh-TếTuổi Trẻ ở Sàigòn có đăng lời chỉ trích và tố cáo của Nguyễn Văn Linh trong cuộc họp công khai tại Sàigòn là vợ chồng Thủ-Tướng Võ Văn Kiệt tham nhũng.

* Về bè nhóm phân hóa: Sự chia phe cánh rõ rệt nhất là Miền Nam và Miền Bắc xảy ra sau ngày chiến thắng 30-4-1975. Nhóm Miền Nam gồm có : Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà, Huỳnh VănTiểng, Tạ Bá Tòng, Trần Văm Giàu, Nguyễn Thị Bình, Dương Quỳnh Hoa v.v... được dành cho một chỗ đứng khiêm nhường hoặc hư vị hay phế bỏ ngoài chánh quyền CSVN. Sự phân hóa rõ nhất là sự tranh giành chức vụ ở các ngành công-an, hải-quan, thành phố Sàigòn, Hải-Phòng, các Bộ Nội-vụ, Bộ Năng-Lượng. Từ phe nhóm Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh đến các nhóm Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt đã nhiều lần "đụng độ" nhau mà người Việt Nam ai cũng biết. Đại-Tướng Võ Nguyên Giáp, anh hùng Điện biên phủ, được cho hư vị và sau đó bị loại ra khỏi chánh quyền.

IV. Kết luận

Hiểu được sự thật bên trong của người cộng-sản Việt-Nam có lẽ không ai hơn chính họ. Những vụ
thủ tiêu bí mật, những thanh trừng nội bộ, những thủ đoạn tranh chấp quyền hành, những tham vọng cá nhân của lãnh đạo, những tàn ác giết hại dân chúng và những tham nhũng thối nát tệ hại hiện nay, chắc chắn rằng nội bộ của họ biết rành rẽ hơn những người ngoại cuộc. Sau ngày 30-4-1975, hồi ký của Văn Tiến Dũng viết Đại thắng mùa xuân 75, Thượng-Tướng Trần Văn Trà năm 1982 viết Ba mươi năm kết thúc chiến tranh, Trương Như Tảng viết A Việt-Cộng Memoir, Hoàng Văn Hoan (1905) cùng thời Hồ Chí Minh trong việc lập Đảng Cộng-Sản Đông-Đương, năm 1985 viết hồi ký Giọt nước trong biển cả và Đại-Tá Bùi-Tín viết Hoa xuyên tuyết vào năm 1991. Đọc các sách kể trên của họ viết, sẽ thấy được về nội tình của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Người cộng-sản dù ở nước này hay nước khác đều giống nhau về tư tưởng, bản chất gian ngoa, thủ đoạn và ác độc. Những hoạt động chính trị thường xảo quyệt, cướp thời cơ, đoạt công lao của người khác, Lê Nin và Hồ Chí Minh là 2 điển hình.
Họ nhân danh sự yêu nước, giải phóng dân tộc để kêu gọi giai cấp lao động (Công nhân, nông dân) đấu tranh, bắt giai cấp này hy sinh và sống chết cho họ được độc quyền lãnh đạo, còn dân chúng lao động thì mãi mãi nghèo khó, bần cùng, đói khổ. Đây là một sự thật hiển nhiên tại Nga hay tại Việt-Nam hiện nay, nhân loại vừa ghê tởm và vừa vui mừng vì thấy chế độ Cộng-Sản đang giẩy chết.

Tóm lại, với những sự kiện vừa kể trên về hiện tình đất nước, thử hỏi CSVN còn gắng gượng được bao lâu nữa ? Đó là chưa kể áp lực từ phía Mỹ, Nga, Trung-Cộng đang đè nặng về chính trị, ngoại giao, thương mại và kinh-tế phá hoại đối với Việt-Nam. Cộng-Hòa Nga chỉ còn chờ thời gian để đi đến đoạn tuyệt, sau khi đã đòi xong nợ và không cần thiết tranh chấp về ý-thức-hệ ở vùng này nữa.

Quả thật Đảng và nhà nước CSVN như một loại trái cây đã chín muồi, chỉ chờ một cơn gió mạnh kéo đến là rơi rụng. Cộng-sản Liên Xô đã tự mình hủy diệt chế độ sau 74 năm thống trị dân Nga, Cộng-Sản Việt-Nam cũng sẽ đi theo quá trình tự huỷ tương tự.

Châu Âu lên án chủ nghĩa và các chế độ cộng sản
ThôngLuận

Ngày 25-1-2006 vừa qua, bằng một đa số áp đảo, Hội Đồng Châu Âu đã biểu quyết NGHI QUYET 1481 lên án cả chủ nghĩa cộng sản lẫn các chế độ cộng sản đã hoặc đang tồn tại. [*]

Bản nghị quyết dứt khoát nhận định rằng chủ nghĩa cộng sản, với hai thành tố chính của nó là đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, đã là nguyên nhân của những tội ác kinh khủng đối với loài người (điều 3), và các chế độ cộng sản, không trừ một ngoại lệ nào, đều đã vi phạm một cách nghiêm trọng những quyền cơ bản của con người, kể cả tàn sát trên một qui mô lớn những người vô tội (điều 2). Nghị quyết khẳng định những tội ác này cần được xét xử một cách nghiêm khắc như những tội ác của các chế độ phát-xít và quốc xã (điều 5).

Các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản và các chế độ cộng sản dĩ nhiên cần được trả lại công lý (điều 8), nhưng nghị quyết nhận định rằng cho tới nay sự lên án chủ nghĩa cộng sản và các chế độ cộng sản vẫn chưa đủ minh bạch và quả quyết, các can phạm vẫn chưa bị xét xử và trừng trị, nhiều đảng cộng sản vẫn còn được phép hoạt động chính thức, một số vẫn tiếp tục cầm quyền tại một số quốc gia và sử dụng chủ quyền quốc gia như một lý cớ để chà đạp con người (các điều 6, 8, 9). Vì thế, nghị quyết kêu gọi cộng đồng thế giới có một thái độ mạnh mẽ hơn cùng với những cố gắng liên tục để xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản và các chế độ cộng sản. Lập trường này có tầm quan trọng đặc biệt : nó mở đường cho một đạo luật, ít nhất là cho châu Âu trước khi trở thành luật quốc tế, đặt chủ nghĩa cộng sản và các chế độ cộng sản ra ngoài vòng pháp luật.

Biểu quyết nghị quyết này, Hội Đồng Châu Âu đã chỉ làm bổn phận của mình. Trước hết là bổn phận đạo đức của châu Âu đối với thế giới : chính châu Âu đã khai sinh ra các chủ nghĩa tệ hại phát-xít, quốc xã và cộng sản, trong đó chủ nghĩa cộng sản đã gây tai họa nhiều nhất, nhưng tới nay châu Âu đã chỉ chính thức lên án và xét xử các chủ nghĩa phát-xít và quốc xã. Châu Âu có trách nhiệm lớn đối với thảm kịch mà chủ nghĩa cộng sản đã gây ra đối với nhân loại, nhất là đối với bốn dân tộc Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Cao Ly vẫn còn chịu đựng ách cộng sản. Đến nay châu Âu mới lên tiếng là đã quá trễ. Sau đó là bổn phận đối với tương lai, để một thảm kịch tương tự không tái diễn nữa.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phản đối một cách thô vụng. Chính sự phản đối này tố giác sự tồi dở của ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ muốn thuyết phục ai và có thể thuyết phục được ai ? Chủ nghĩa cộng sản ra đời tại châu Âu dựa trên những phân tích về bối cảnh lịch sử và xã hội châu Âu trong thế kỷ 19. Nó là một sai lầm trong cố gắng mưu tìm một công thức dân chủ hóa, nghĩa là một sai lầm trong việc theo đuổi một mục tiêu đúng, dù là một sai lầm trong mọi địa hạt và trên mọi phương diện, từ nhận thức đến kết luận, từ lý thuyết đến thực hành. Nó đã là một sai lầm đẫm máu và trở thành một tội ác chứ không phải là một chủ trương độc ác ngay từ đầu.

Lịch sử nhân loại đầy rẫy những sai lầm. Có thể nói các chế độ kế tiếp nhau đều là những chuỗi sai lầm trong có gắng mò mẫm của loài người để khai phóng con người. Sai lầm có thể hiểu được, ngoan cố trong sai lầm là một tội ác, và tội ác càng lớn khi sai lầm đã quá rõ ràng. Đảng cộng sản không thể đổi mới
Nguyễn Gia Kiểng

Theo các khảo cứu và thực nghiệm của khoa tâm lý xã hội thì những quyết định quan trọng thường hay hơn khi do một ủy ban hay một tập thể. Hai lý do quan trọng là, một mặt, trước những chọn lựa quyết định tương lai và sự sống còn của tập thể, mọi người đều bị ràng buộc trong cùng một số phận, điều tốt cho tập thể cũng là điều tốt cho mỗi người và, mặt khác, kinh nghiệm cho thấy con người trở thành bạo dạn hơn trong một quyết định động đội.

Điều ngược lại đang xảy ra với Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nếu ta gặp riêng từng người cộng sản và nói chuyện một cách cởi mở với họ thì tất cả, không trừ một ngoại lệ nào, đều đồng ý rằng phải dân chủ hóa nhanh chóng, phải từ giã chủ nghĩa Mác-Lênin đã quá lỗi thời, phải hội nhập với thế giới. Họ nghĩ đúng, như đại đa số người Việt Nam. Cá nhân mỗi người cộng sản cũng không xấu hơn mức trung bình quốc gia của chúng ta. Thế nhưng khi ngồi lại với nhau thì họ chỉ lấy những quyết định chống dân chủ, lại kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin.

Cần nhận xét là từ nhiều năm qua đảng cộng sản không những không cởi mở thêm mà trái lại còn thủ cựu và phản động hơn trước. Một thí dụ là hai mươi năm trước đây người ta còn nói đến phân biệt đảng và nhà nước, bây giờ vấn đề này không còn được đề cập đến nữa. Cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu có lần còn nói đến việc bổ nhiệm những bộ trưởng không phải là đảng viên cộng sản và còn tiếp xúc với những người dân chủ. Bây giờ chỉ còn có công an đến gặp những người dân chủ để đe dọa. Nếu xã hội Việt Nam tiếp tục cởi trói như thực tế cho thấy, thì cũng chỉ vì áp lực của xã hội dân sự Việt Nam và dư luận thế giới đã buộc đảng cộng sản phải nhượng bộ một cách lúng túng và miễn cưỡng. Đảng bảo thủ và nhút nhát hơn mỗi đảng viên một cách quá đáng.

Điều này trước hết phải được hiểu là đảng cộng sản không còn là một tổ chức đúng nghĩa nữa, sự sống còn của đảng không còn đồng nghĩa với tương lai của mọi người, điều tốt nhất cho mỗi người là thận trọng thủ thân dù đảng có tiếp tục sa lầy trong bế tắc. Tuy vậy, ù lì đến như vậy thì cũng phải có một lý do khác : đảng cộng sản không còn đổi mới được nữa.

*

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc. Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến 15 năm cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường. Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được. Những người cộng sản rất thực tiễn, họ không có cái lãng mạn tiểu tư sản. Kịch bản của một chủ nghĩa độc hại bao giờ cũng giống nhau : kẻ đi trước có thể đã cuồng tín vì mù quáng, nhưng người đi sau chỉ ngoan cố vì quyền lợi.

Kết quả là cả chế độ đặt nền tảng trên một sự hung bạo gian trá, càng phải hung bạo khi sự gian trá càng rõ rệt. Chế độ cộng sản đã mất đi sự chính đáng mà mọi chế độ đều phải có. Sự chính đáng của đảng cộng sản dựa trên ba huyền thoại : sự ưu việt gia tao của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhân vật xuất chúng bip bom Hồ Chí Minh và những cuop cong hy sinh dũng cảm trong cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước. Nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin đã phơi bày sự tồi kém của nó, huyền thoại Hồ Chí Minh ngày càng trở thành lố bịch. Chỉ còn lại thành tích chiến đấu và chiến thắng, nhưng chính thành tích này cũng đã mất hết ý nghĩa. Vả lại, ngay cả nếu nó có là một thành tích đem lại cho đảng cộng sản một sự chính đáng nào đó thì nó cũng đã thuộc vào quá khứ và không còn sử dụng được nữa. Thành quả nào cũng chỉ có thể đem lại cho người cầm quyền một sự chính đáng nhất thời để xây dựng những thành quả khác và đổi mới sự chính đáng. Các thành quả không thể chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những người sẽ vào trung ương đảng năm 2006 ở lứa tuổi trung bình 50, năm 1975 họ chưa đủ 20 tuổi và không có đóng góp nào trong chiến tranh ; thành quả thực sự của họ chỉ là đày đọa dân tộc trong hơn 30 năm, khiến đất nước ngày càng tụt hậu về mọi mặt, để mất đất và biển và tạo ra tham nhũng ở mức độ chưa từng thấy. Đối với dân chúng, họ là đối tượng của sự thù ghét, bất tín và bất phục. Chính sách thực sự của đảng là kéo dài sự tồn tại bằng cách ngăn chặn mọi thay đổi.

Không phải là đảng cộng sản không thấy sự cần thiết của dân chủ, cũng không phải là họ không tin rằng xu hướng dân chủ hóa không thể đảo ngược được. Họ thấy từ lâu rồi nhưng họ không dám thay đổi, bởi vì họ thừa biết sẽ bị thảm bại trong các cuộc bầu cử dân chủ. Với thời gian, mâu thuẫn và khó khăn tích lũy, từ chỗ không dám và không muốn thay đổi họ đã đi đến tình trạng không thể thay đổi.

Nhưng khi một đảng cầm quyền tồn tại bằng cách chống lại những thay đổi bắt buộc thì vô số bệnh tật sẽ phát sinh ngay trong cơ thể của nó. Một trong những bệnh tật này là sự xuống cấp nhanh chóng của nhân sự lãnh đạo. Khi lập trường nền tảng là chống thay đổi, thì những kẻ ít ý kiến nhất trở thành những người đáng tin cậy nhất, và bộ máy sàng lọc chỉ để lại những cấp lãnh đạo không cá tính và bản lãnh. Ba vị lãnh đạo cao nhất của chế độ, các ông Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải và Trần Đức Lương là những thí dụ điển hình. Họ đã nâng phương châm "ngậm miệng ăn trùm" lên hàng một nghệ thuật. Cả ba đều là những người rất tầm thường, ngay cả so với những người cùng thế hệ và cùng đội ngũ với họ. Họ không có tài năng hay đạo đức đặc biệt nào, họ đã chỉ lên được những địa vị quyền lực cao nhất nhờ khôn vặt, nhờ được cảm tình của những người có quyền cất nhắc, Lê Đức Thọ rồi Lê Đức Anh, không gây ra một vấn đề nhức nhối nào và không là một đe dọa cho ai. Họ là điển hình cho những cấp lãnh đạo cộng sản hiện nay và sắp tới. Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng phương pháp đánh giá đúng nhất đối với những cấp lãnh đạo cộng sản là nhìn vào chức vụ của họ, chức vụ càng cao càng chứng tỏ họ thiếu nhân cách và bản lãnh. Những cấp lãnh đạo này có uy tín nào để lấy những quyết định thay đổi quan trọng, ngay cả nếu họ thấy là cần ?

Một chế độ không chính đáng, không lý tưởng và thiếu lãnh đạo tất nhiên sẽ suy yếu và phân hóa ngay cả khi không bị chống đối. Điều mà nhiều người không ý thức được là trên thực tế đảng cộng sản chỉ còn là một hư cấu. Trong một xã hội mà cái gì cũng mua được, kẻ có tiền là kẻ có quyền . Thực quyền hiện nay không còn nằm trong tay những người lãnh đạo đảng cộng sản nữa. Nó ở trong tay một giai cấp quí tộc mới, những người mà ngôn ngữ dân gian gọi là tư sản đỏ, nhưng thực ra phải gọi là tư sản đen, tư sản lưu manh. Đảng và nhà nước cộng sản chỉ là những cơ quan chấp hành của giai cấp thống trị này.

Nhà nước Việt Nam cũng chỉ còn là một hư cấu. Đảng cộng sản, quân đội, công an đều có công ty riêng và tài chính độc lập. Quân đội có công an của quân đội và công an có lực lượng chiến đấu của công an, đảng có cơ cấu riêng trong quân đội và công an. Trên thực tế, đây là những nhà nước trong nhà nước, với những quyền lợi và mục tiêu mâu thuẫn. Chưa kể là với sự mờ nhạt của lãnh đạo trung ương, mỗi địa phương gần như là một sứ quân. Cũng chưa kể là hiện nay người dân nộp tiền cho tham nhũng nhiều hơn là đóng thuế cho nhà nước và sợ các băng đảng xã hội đen hơn là công an chính thức. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải có trước hết một nhà nước thực sự, để ít nhất còn biết đối thoại với ai.

Đừng thấy đảng cộng sản bắt bớ và bỏ tù những người dân chủ mà nghĩ rằng nó còn mạnh. Đàn áp những người lương thiện tay không là điều mà chế độ nào, dù bất lực đến đâu cũng làm được. Ngày xưa Hồ Quý Ly lập chế độ hộ khẩu, khống chế chặt chẽ dân chúng trong nước và đám cựu thần của nhà Trần nhưng đã thất bại nhanh chóng trước đạo quân xâm lược của Trương Phụ. Cả vua quan bị bắt trói bởi một toán quân Minh chỉ có bảy người. Các chế độ họ Trịnh ở ngoài Bắc và họ Nguyễn ở trong Nam rất hung bạo với dân chúng những đã bị đánh gục nhanh chóng bởi đảng Tây Sơn. Các chế độ bất lực và ruỗng nát đàn áp được những người dân bình thường nhưng không đương đầu được với các biến cố. Chúng có thể sụp đổ một cách đột ngột và bất ngờ. Chúng tồn tại một cách giả tạo, như là một thăng bằng tạm bợ của nhiều lực mâu thuẫn và chỉ có thể tiếp tục tồn tại nếu không có gì thay đổi. Đó là tình trạng của cả đảng lẫn nhà nước cộng sản Việt Nam.

Đảng cầm quyền này và nhà nước này không còn làm được gì cả. Nó không thể đổi mới. Đã có rất nhiều đóng góp cho đại hội 10 sắp tới của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, những đóng góp này có giá trị ở chỗ chúng nói lên khát vọng một nhà nước dân chủ và lương thiện. Nhưng không nên hy vọng gì ở các cấp lãnh đạo cộng sản hiện nay. Họ bất lực. Đảng cộng sản đã quá phân hóa và suy yếu để có thể thay đổi. Nó không còn thực quyền !

*

Nếu đảng cộng sản không thể thay đổi thì cái gì sẽ xảy ra và tương lai đất nước sẽ như thế nào ?

Lập luận thông thường là đảng cộng sản vẫn trụ được do cấu kết quyền lợi. Lập luận này sai. Quyền lợi không bao giờ đoàn kết được những con người trong một ý chí chung, ngay cả nếu ý chí chung đó chỉ giản dị là tiếp tục tồn tại. Nếu như thế thì bọn cướp bóc đã nắm được chính quyền ở mọi quốc gia. Một chế độ chỉ tồn tại được nếu có lý do tồn tại, nghĩa là đáp ứng một nhu cầu cơ bản nào đó của xã hội. Hai nhu cầu cơ bản nhất của Việt Nam hiện nay là : 1/dân chủ và tự do để được sống như những con người, và 2/thành công trong cuộc cách mạng tri thức đang diễn ra sôi nổi trên thế giới và sẽ quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của mọi dân tộc. Trên cả hai vấn đề trọng đại này đảng cộng sản không những không có giải đáp mà còn là trở ngại.

Trong vở kịch bất hủ "Con Tin" (Otage) của ông, Paul Claudel đã cho nhân vật Turelure giải thích cuộc Cách Mạng Pháp 1789 như sau : "Cũng lỗi tại những thứ này không vững chắc làm người ta quá bị cám dỗ để lay chuyển chúng xem sao". Những gì không vững chắc và không có thực chất sẽ bị nhận ra và xô đẩy.

Hiện đã có khá nhiều người đối lập dân chủ. Họ càng ngày càng đông và càng có phối hợp, dù chưa phải là một lực lượng mạnh. Họ sắp được sự tiếp viện của một loại người mới, những cán bộ và đảng viên cộng sản trẻ nhìn thấy thay đổi là bắt buộc và muốn chủ động trong cuộc thay dổi đó để làm tác nhân thay vì nạn nhân của lịch sử. Họ cũng sẽ được hậu thuẫn từ hai thành phần quan trọng của xã hội Việt Nam : những công nhân mà cuộc sống ngày càng khó khăn và bế tắc, và những sinh viên, học sinh không nhìn thấy một tương lai nào cho mình trong chế độ này. Thay đổi sẽ bằng cách này hay cách khác. Vấn đề chỉ là đừng để chế độ này sụp đổ nhường chỗ cho một khoảng trống chính trị và một tình trạng vô chính phủ.

Chính qua đấu tranh giành thắng lợi cho dân chủ mà một đồng thuận về một dự án chính trị cho đất nước sẽ được đạt tới và những con người cần thiết để thực hiện nó sẽ được phát hiện.

Nguyễn Gia Kiểng

Nghị Quyết 1481 lên án tội ác chống nhân loại của các nước cộng sản

HÃY KHÓC CHO CÁC NGƯƠI VÀ CHO CON CHÁU CỦA CÁC NGƯƠI”

LM. Đinh Xuân Long

LỜI DẪN NHẬP:

Vào ngày 26-01-2006, Nghị Vien Âu Châu đã ra Nghị Quyết 1481 lên án tội ác chống nhân loại của các nước cộng sản trên toàn thế giới. Với Nghị Quyết này, Hộï Đồng Châu Âu đã khẳng định rằng việc kết án những tội ác, những vi phạm nhân quyền tại các nước cs toàn trị xưa và nay là điều cần thiết. Bản Nghị Quyết cũng khuyến cáo các nước không CS, đừng vì những quyền lợi riêng tư mà không lên tiếng. Bản Nghị Quyết nhấn mạnh rằng việc lên án này là bổn phận luân lý và lương tâm của mọi người bởi vì cộng đồng nhân loại cần phải chấm dứt ngay lập tức những vi phạm trầm trọïng đang còn xảy ra tại các nước cs còn xót lại, để có thể bảo vệ giá trị nhân quyền, tự do và nhân phẩm của con người. Với Nghị Quyết này, không còn hồ nghi gì nữa là Hội Đồng Châu Âu đã đặt chế độ của các nước CS hiện nay, trong đó có CSVN, ra ngoài vòng pháp luật và chờ ngày đem ra tòa xét xử.

Vấn đề xét xử và công luận các tội phạm xin dành cho lịch sử và cộïng đồng nhân loại. Ở đây chúng ta cần nói đến ý nghĩa của việc lên án. Đức Giáo Hoàng Piô XI vào năm 1937 trong Thông Điệp Divini Redemptoris đã kết án chủ nghĩa cs là tàn ác, vô thần và phản luân lý. Hậu quả khôn lường của chủ nghĩa cs là cản bước tiến của cộng đồng nhân loại hướng về tự do, nhân phẩm và thăng tiến đời sống.

Trong tinh thần đó, ngày 09-02-2006, bốn linh mục tại VN, Chân Tín, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi, đại diện cho một số linh mục, đã lên tiếng ủng hộ lập trường chính đáng của Nghị Quyết 1481 này. Vấn đề đặt ra là tại sao Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đại diện cho hàng linh mục, những vị ngôn sứ của sự thật, những chiến sĩ cho công lý và công bằng, lại tiếp tục giữ im lặng. Sự im lặng ở đây không còn là khó hiểu nữa, đây là một sự im lặng “đáng sợ.” Đáng sợ bởi vì các vị ngôn sứ của sự thật đã vì sợ hãi và khiếp nhược mà cam tâm từ chối chức vị ngôn sứ đã được trao phó. Đáng sợ bởi vì bạo lực và hăm dọa đã đè bẹp “thần khí” sức mạnh và sự thật. Phải chăng sự im lăïng này cần phải bị lên án và cảnh báo như Đức Kitô đã cảnh báo dân Do Thái và thành thánh Giêrusalem trên con đường thập tự. Mời bạn hãy cùng tôi nhập cuộc.

Trên đường thương khó Chúa Giêsu đã gặp các phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương cho Ngài, Chúa phán: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, chớ khóc thương Ta làm chi. Hãy khóc thương cho các ngươi và cho con cháu các ngươi. Vì này đây sẽ tới ngày người ta sẽ nói: ‘Phúc thay những đàn bà hiếm muộn, những lòng dạ không sinh con, những kẻ không cho bú mớm!’ Bấy giờ người ta sẽ nói với núi non: ‘Đổ xuống trên đầu chúng tôi đi!’ và với gò nổng: ‘Phủ lấp chúng tôi đi!’ Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Luca 23:28-31). Đức Kitô đã cảnh báo một đại họa sẽ đổ xuống trên đầu dân Do Thái bởi vì họ đã từ chối Con Thiên Chúa. Nếu họ không biết ăn năn hối cải, đại họa đó sẽ xảy đến không lường được. Và đại họa đó đã đến vào năm 70 khi quân La Mã tàn phá thành thánh Giêrusalem và bắt đi lưu đày biệt xứ toàn dân Do Thái.

“Chớ khóc thương Ta làm chi!” (Luca 23:28). Đừng khóc thương Thiên Chúa trong nhà thờ. Đừng mủi lòng trước sự khổ nạn của Chúa Kitô. Hãy ra ngoài đối diện với thực trạng xã hội VN và “Hãy khóc thương cho ngươi và cho con cháu các ngươi.” Phải chăng Đức Kitô đang cảnh báo mỗi người chúng ta về một đai họa đã và đang xảy ra cho dân tộc VN. Đại họa đó chính là đảng CSVN đã và đang đưa đất nước và dân tộc đến chỗ diệt vong hoàn toàn. Lịch sử VN đã được viết bằng xương, bằng máu và nước mắt. Nhưng chưa bao giờ trong lịch sử, chỉ trong một giai đoạn ngắn, csVN với bản chất tàn ác phi nhân vô độ đã chất xương của người dân vô tội thành núi, biến máu chảy thành sông và nước mắt thành biển sâu.

Nếu bạn còn nước mắt, hãy khóc thêm nữa đi, khóc cho chính mình, cho gia đình và cho con cháu. Hãy khóc cho vơi đi những tủi hờn câm nín bấy lâu nay!

Trước hết hãy khóc thương cho cha mẹ, ông bà, họ hàng của chúng ta đã chết thảm trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất từ 1952-1956. Hãy khóc cho nửa triệu người có chút ruộng đất, tài sản đã bị chụp mũ “phú nông địa chủ bóc lột nhân dân” và bị kết án tử hình bởi bọn người cs một cách bất công và phi lý. Hãy xót xa cho chính mình khi bị cưỡng bức dưới họng súng phải gọi chính ông bà, cha mẹ, các bậc trưởng thượng bằng “chúng mày” để thõa mãn thú tính của đám người tự xưng “cách mạng.” Phải chăng đây là một đại họa cho dân tộc VN? Cuộc cải cách ruộng đất không những cướp đi tính mạng, tài sản của người dân, nó còn chính thức cáo chung tinh thần gia đình và nền luân thường đạo lý sáng ngời của dân tộc Việt.

Hãy khóc cho anh chị em của chúng ta, hàng triệu người đã bỏ mình cách oan khiên trong cuộc nội chiến tương tàn. Hãy khóc cho những mái đầu xanh, 15, 16 tuổi sinh Bắc nhưng bị cưỡng bức cầm súng vào Nam để rồi chết tức tưởi trên đường vượt Trường Sơn khi mộng ước chưa thành, để thỏa mãn nguyện vọng điên cuồng nhuộm đỏ miền Nam của bắc bộ phủ, những tên nô lệ chính hiệu cho CS Nga và Tàu. Hãy xót xa cho hàng ngàn bạn bè láng giềng đã bị chôn sống và bức tử trong biến cố Mậu Thân. Ngày Tết, ngày thiêng liêng nhất của dân tộc đã bị một lũ người mang danh “giải phóng” biến thành ngày đại họa cho dân tộc. Phải chăng đây là một đại họa cho dân tộc khi tình người, tình dân tộc, ý chí độc lập tự cường và truyền thống đã bị cáo chung?

Hãy khóc cho chính chúng ta, những nạn nhân sau 1975. Hãy khóc cho chúng ta là những kẻ bị cưỡng bức đi vùng kinh tế mới, vật lộn với rừng thiêng nước độc, trong khi những kẻ mang danh giải phóng từ rừng rú, lại về thành phố cưỡng chiếm tài sản của đồng bào. Hãy khóc cho chính chúng ta, nhưng kẻ bị liệt vào hàng ngũ “Mỹ ngụy” bị bắt đi tù cải tạo tập trung. Nếu không chết rũ tù thì khi được trả về chỉ còn lại mắm xương khô, ý chí hầu như bại liệt vì tra tấn, hành hạ và trù dập trong tù. Phải chăng đây là một hình thức lưu đày trong thời đại văn minh mà CSVN đem áp dụng để triệt tiêu hoàn toàn những kẻ nghi ngờ chống đối bạo quyền CS.

Hãy khóc cho chính chúng ta, những công nhân lao động tại các hãng đầu tư ngoại quốc và xí nghiêp quốc doanh. Chúng ta bị ép buộc làm quần quật như con thú, bị đối xử tàn nhẫn, bị sách nhiễu tình dục thường xuyên. Nhưng dù lao động vất vả, chúng ta cũng chỉ có được một đồng lương chết đói đến nỗi chúng ta phải đình công phản đối. Trớ trêu thay,”đảng CSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân” lại hùa theo ngoại quốc để bóc lột chính đồng bào của mình. Phải chăng đây là một đại họa cho dân tộc khi CSVN, vì nhu nhược hèn kém, đã cắt đất dâng biển cho Tàu, là những kẻ đại diện cho dân lại cúi đầu ngoan ngoãn trước ngoại bang?

Sau nữa hãy khóc thương cho chính con cháu chúng ta, những bé gái còn măng sữa đã bị bán vào các động nô lệ tình dục bên Miên, Lào, Thái Lan. Hãy khóc cho những cô thiếu nữ mộng còn xanh nhưng lại bị lường gạt bán qua Tàu, Macao, Đại hàn làm điếm. Hãy ngậm ngùi cho những cô gái Việt, vì nghèo đói, phải lấy chồng Đài Loan, ban ngày làm quần quật như đầy tớ, ban đêm phục vụ tình dục cho tất cả mọi người trong nhà. Hãy phẩn nộ vì những cô gái Việt bị đăng rao bán trên internet như một món hàng cho những tên đàn ông ngoại quốc háo sắc xem xét và trả giá như một món đồ.

Phải chăng VN đang trở về thời kỳ nô lệ cổ xưa buôn người bán vật đã từng bị kết án bởi thế giới là man khai và phi nhân. Trong khi cả thế giới lên án tất cả các hình thức nô lệ tình dục, chính quyền CSVN lại cố tình lờ đi. Tại sao vậy? Phải chăng đây là chính sách của đảng, hòa nhịp với việc thả lỏng các tệ nạn xã hội, các động thuốc lắc, xì ke ma túy, hầu đầu độc và tiêu diệt ý chí quật khởi của thế hệ trẻ? Tương lai dân tộc sẽ đi về đâu? Phải chăng đây là một đại họa cho nước Việt?

Đảng CSVN, một đại họa cho dân tộc Việt đã và đang dày xéo tấm thân Mẹ VN. Qua Quyết Nghị 1481, Hội Đồng Châu Âu đã khóc cho dân tộc Việt. Đây là những giọt nước mắt đồng cảm đáng trân trọng trước những thảm trạng dân Việt phải chịu. Gạt bỏ ra ngoài csVN là những kẻ đã mất tính người, tại sao lại còn có người tiếp tục vô cảm và chai cứng trước thảm họa này? Hay còn chờ ngày đại họa thật sự sẽ đến?

“Ngày ấy người ta sẽ nói với núi cao: Đổ xuống trên đầu chúng tôi đi! Và với gò nổng: Phủ lấp chúng tôi đi” (Luca 23:30). Chúa Giêsu lập lại lời cảnh báo của tiên tri Hosêa, vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, về một đại họa sẽ xảy đến cho dân Do Thái nếu họ tiếp tục từ bỏ Đức Yavê, tôn thờ bụt thần, tôn vinh vua chúa, sức mạnh vũ lực và chính trị lên trên Thiên Chúa. Và tai họa đó đã đến. Quân Assyria đã đến, tàn sát và bình địa đất nước Do Thái. Khi tai họa xảy ra, người ta muốn núi đồi hãy xụp xuống trên chính họ, bởi vì không ai muốn sống còn trước đại họa đó (Hosêa 10:1-8).

Đại họa và thảm trạng đang xảy ra trên đất Việt, bạn còn chần chờ gì nữa mà không lên tiếng để chặn đứng? Hay bạn chờ ngày cùng tận của đại họa khi lừa dối và bạo lực đã ăn sâu vào xương tủy, khi luân lý, tư cách và liêm sĩ bị ném vào xọt rác, khi sợ hãi và khiếp nhược được thừa nhận như một lối sống, hay khi con cái bạn, thấm nhuần chủ nghĩa CS, làm một cuộc cách mạng gia đình đạp đổ tôn ti trật tự và đem bạn đi truy tố? Hay bạn chờ ngày CSVN, vì nhu nhược, khiếp sợ và tôi đòi, sẽ dâng VN cho Tàu như một sính lễ, rồi mặc cho giặc Tàu tự tung tự tác, thao túng và tung hoàng trên giải đất giang sơn. Lúc đó bạn còn khóc được nữa không?

“Cây xanh tươi người ta còn đối xử như thế, cây khô héo sẽ ra sao?” (Luca 23:31). Đức Kitô, Con Thiên Chúa, là cây xanh tươi ban sự sống còn bị đối xử như thế, còn những ai đã chai lòng không biết hối cải, những ai đã ra khô héo vì đã từ chối ơn gọi ngôn sứ thiêng liêng của mình, những ai đã phủ nhận giá trị của sự thật, những ai cúi đầu khuất phục trước bạo lực và bất công sẽ bị xét xử như thế nào?

Bản Nghị Quyết 1481 của Nghị Viện Âu Châu không nguyên chỉ là một bản cáo trạng lên án tội ác của các chế độ cs, đây là một lời nhắc nhở, một thông điệp của sự sống gởi toàn thế giới. Thông điệp này mời gọi mọi người tham gia vào việc bảo vệ quyền sống và quyền làm người. Lên án không có nghĩa là thù hận hay tiêu diệt. Lên án ở đây là để giúp nhân loại biết nhận thức và sửa sai các tội ác, để ngăn chận và chấm dứt tất cả các vi phạm đang xảy ra tại các nước cs còn lại, để giúp cho thế hệ tương lai biết mà không còn vấp phạm nữa.

Không lẽ Hội Đồng Châu Âu đã trở nên những ngôn sứ nói thay cho chúng ta hay sao? Việc lên án sự dữ, bất công là bổn phận và ý thức luân lý và lương tâm của mỗi người trong chúng ta. Vậy bạn hãy cùng tôi lên tiếng chống lại những tội ác vi phạm nhân quyền, tự do và phẩm giá con người tại VN. Hãy cùng tôi mời gọi các vị lãnh đạo tinh thần, các linh mục, Hội Đồng Giám Mục VN, những ngôn sứ của sự thật, những chiến sĩ tiên phong cho công lý và tình thương, hãy gióng lên tiếng nói của sự thật, lên án sự dữ của chế độ csVN hầu ngăn chận các thảm trạng và đại họa đang xảy ra trên quê hương chúng ta.

THAY LỜI KẾT:

Chúng ta vừa nhìn lại một giai đoạn lịch sử, một giai đoạn tăm tối nhất trong lịch sử dân tộc. Điều đáng nói là các thảm trạng và vi phạm trầm trọng vẫn còn đang tiếp diễn trên mãnh đất da vàng này. Vì tương lai của dân tộc, vì quyền sống và quyền làm người của đồng bào ruột thịt tại VN, xin mời mọi người hãy cùng tôi nói lên tiếng nói giao cảm, tiếng nói tình tự thiêng liêng của giống nòi, tiếng nói kêu gọi chế độ phi nhân bạo quyền Hà nội biết quay về với công lý và nguồn sống của dân tộc, tiếng nói thể hiện quyết tâm ngăn chận các thảm trạng và oan nghiệt đang xảy ra trên đất mẹ. Hãy thắp lên ngọn lửa hy vọng và quyết tâm thay vì tiếp tục than khóc cho phận mình. Trong tinh thần đó, chúng ta cùng hướng về một VN tự do, nhân quyền, dân chủ và tươi sáng hơn.

LM. Đinh Xuân Long

Lá Thư Khẩn!!!


Kính gởi đồng bào trong và ngoài nước Việt Nam!

Nhóm nhỏ yêu nước ở Tây Úc xin gởi đến quý đồng bào lá tâm thư đầy nhiệt huyết và chân thành. Xin thưa, dân tộc Việt Nam đã chịu 1,000 năm đô hộ bởi giặc Tàu, 100 năm đô hộ bởi giặc Tây, hơn 20 năm nội chiến từng ngày, và trên 30 năm sống dưới chế độ cộng sản, là 1 chế độ mà lúc nào cũng hô hào là đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nông dân vô sản, thể chế chuyên chính luôn tranh đấu cho quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân...

Trong thời kháng chiến, cộng sản Việt Nam hằng ngày
xúi giục công nhân đình công, để cộng sản Việt Nam lên nắm chính quyền. Ngày nay cộng sản Việt Nam lại nghiêm cấm công nhân đình công, bất kỳ dưới mọi hình thức hay đòi hỏi nào, còn trắng trợn ra mặt bênh vực cho các nhà đầu tư ngoại quốc, bằng mọi giá thu hút giới đầu tư, bởi đồng lương nhân công rẻ mạt. Sự bất công này đã dẫn đến 1 cuộc đấu tranh nổ ra từ đầu tháng giêng năm 2006 và rãi rác cho đến ngày hôm nay, bất chấp lệnh cấm của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Cuộc đình công đòi tăng lương của hơn 42,000 công nhân khắp nơi ở Sài Gòn và Bình Dương, vì mức lương tối thiểu của họ quá thấp, không đủ nuôi sống bản thân, họ phải làm thêm nhiều giờ phụ trội, từ 1999 cho đến nay, chỉ có $40 USD/tháng, cho công nhân làm ở công ty 100% vốn ngoại quốc và chỉ $20 USD/tháng cho doanh nghiệp nhà nước, thêm nữa họ phải làm việc trong điều kiện tồi tệ, đe dọa đến sức khỏe và an toàn tính mạng. Để làm hài lòng cho các ông chủ tư bản Đài Loan, cộng sản Việt Nam đã bắt giam 100 lảnh đạo công nhân tại Bình Dương, đến nay vẫn không biết hành tung của những lảnh đạo đó ở đâu? Rỏ ràng cộng sản Việt Nam hoàn toàn là gian xảo, dối trá, khi rêu rao rằng luôn luôn bảo vệ quyền lợi cho các tầng lớp giai cấp nghèo Việt Nam, đặc biệt là giới côngnhân, nông dân.

Sau 30 năm, nay đã bước sang năm thứ 31, chỉ còn 1 nhóm nhỏ đảng viên trung ương cộng sản, với sự cố vấn già nua của 2 thái thượng hoàng là Đổ Mười và Lê Đức Anh, ngoan cố bám víu lấy quyền lực, lộng hành thao túng cho phe cánh thuộc hạ, làm cho đồng bào trong nước không có được 1 ngày Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. 1 tập đoàn lảnh đạo cộng sản Việt Nam, thì tham nhũng hàng đầu Thế Giới, lộng quyền
cắt đất dâng biển cho đàn anh Tàu Cộng, bù lại thì ngang tàn cướp đất dân nghèo. Mỗi đảng viên ngày càng giàu to lên, với dinh thự sang trọng, cùng nhiều hecta đất, con cái thì đi du học ngoại quốc và đặc biệt bọn chúng phung phí cả triệu Đôla Mỹ cho mỗi lần cá độ, trong khi dân trong nước phải gánh 1 thảm cảnh quá nghèo nàn và khổ cực. Xin hỏi: tại sao hơn 30 năm rồi người Việt Nam, ngày càng thua xa các nước xung quanh. Người Việt Nam rất cần cù và thông minh kia mà, lại thêm lượng tiền ‘kiều hối’ hàng năm trên 3 tỷ USD, vậy tại sao Việt Nam cứ lạc hậu chậm tiến mãi vậy? Như vậy: chế độ cộng sản là chế độ gì vậy? Tại sao cứ hả mồm to ra mà bảo rằng: Việt Nam tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua thời kỳ quá độ tư bản, tức là chủ nghĩa xã hội phải giàu sang, sung sướng hơn chủ nghĩa tư bản chứ! Đằng này lại cứ đè đầu công nhân chủ nghĩa cộng sản đi làm thuê, làm mướn cho các ông chủ tư bản với đồng lương ‘bố thí’ hoài vậy! Như thế là sao? Còn nữa, người đảng viên cộng sản là người chuyên chính vô sản, chuyên chính vô sản thì sao lại đi làm kinh tế! Như vậy là sao? Vậy là chế độ gì vậy? Có phải là chế độ cộng sản biến thể? Nếu là biến thể thì phải để cho xã hội Việt Nam cũng phải biến thể là đa nguyên, đa đảng. Đảng cộng sản Việt Nam đã từ lâu luôn dùng xảo ngôn, triết lý tráo trở đại loại như: bế quan tỏa cảng, để hàng chục triệu dân Việt đói khổ, sau hơn 10 năm thấy kham không nỗi, đành mở cửa ra cầu cứu bên ngoài, đón mời tư bản, rồi nghêu ngao nói rằng: ‘đảng cộng sản sáng suốt’, là thành quả của ‘đổi mới’. Còn đàn áp, cướp đất, bắt giam không xét xử, nhốt người vô cớ, rồi thả ra, lếu láo nói là chính sách ‘khoan hồng’, ép người ra nước ngoài làm thuê làm mướn, để trả nợ quốc gia, thì nói là ‘xuất khẩu lao động’. Còn riêng những người Việt chốn chạy cộng sản Việt Nam để tìm Tự Do nơi đất khách quê người, thì bị gọi là ‘kẻ phản dân, phản quốc’, ‘bọn tay sai’, ‘bọn ngụy quân ngụy quyền’, nhưng khi mà đem tiền về lại Việt Nam, thì gọi là ‘Việt kiều yêu nước’. Mới gần đây có 1 câu nói thật thối tha ma mãnh, thật là không biết xấu hổ và ngượng mồm, bảo rằng: ‘Kiều bào là núm ruột ngàn dặm’, đúng ra câu nói này nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải nói cho rỏ hơn rằng: ‘Kiều bào nào thoát chết, chạy ra được tới hải ngoại thì là núm ruột ngàn dặm’, ‘còn có lỡ bị trôi sông, lạc chợ, chết thê thảm hoặc bị hãm hiếp trên biển thì mặc kệ, mộ bia thì cũng phải đục bỏ’, đấy như thế đấy nghe mới đủ ý, đừng lấp lững mà bỏ đầu cắt đuôi, đừng chơi ngữ, dùng từ nữa.

Thôi năm nay 2006, đã hơn 70 năm cầm quyền rồi! Quá đủ rồi! Cộng sản Việt Nam đừng giả vờ như mù, như điếc nữa, phải banh lổ tai ra mà nghe, phải mở to con mắt ra mà nhìn thấy cái sai, phải can đảm nhìn vào sự thật, đừng lầm đường lạc lối nữa, tại sao lại cứ phải đeo bám vá víu theo chủ nghĩa Mac-Lê, để mà lôi kéo cả hơn 82 triệu đồng bàoViệt Nam lún sâu vào vũng bùn ‘bần cùng và tụt hậu’. Phụ nữ và trẻ em thì bị bán làm nô lệ tình dục, Oshin. Thanh thiếu niên thì xì ke nghiện ngập, đầy bệnh thế kỷ. Giới công nhân thì đem đi ‘xuất khẩu lao động’ để trả nợ quốc gia, hoặc làm công rẻ mạt để thu hút nhiều nhà đầu tư, nhằm trục lợi riêng cho 1 nhóm nhỏ lảnh đạo cộng sản Việt Nam.

Thưa Quý đồng bào, xin hãy chú ý 1 điểm rất quan trọng là sự mưu mô, xảo trá và quỷ quyệt của đảng cộng sản Việt Nam, là như ngầm hiểu ý nhau, trãi qua đã 9 kỳ đại hội, xin hãy để ý rằng: trước kỳ đại hội nào cũng vậy, các lảnh đạo đảng viên đảng cộng sản, giả vờ như có 1 sự đấu đá nhau kịch liệt trong nội bộ đảng, nhưng đó đều nằm chung 1 bài bản, dựng cảnh tố cáo nhau, phanh phui ra những tội trạng sai trái, tham nhũng, thanh trừng, gạt bỏ, rồi kỷ luật nội bộ, kế đến là cho hạ cánh an toàn. Động thái này cố ý làm hiệu cho những đảng viên phía dưới có điều kiện lên tiếp thu chức vụ, và nối nghiệp ra tay vơ vét, tham nhũng chỉ sau vài ngày nhậm chức mới.

Kính thưa đồng bào hải ngoại, trước những thảm cảnh đau lòng của quê nhà, không còn bút viết nào để nói cho đầy đủ, là người Việt sống nơi x